TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH THANH HOÁ CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ XÂY DỰNG VÀ TRƯỞNG THÀNH
Trường chính trị tỉnh Thanh Hoá có tiền thân trực tiếp là trường Đảng Hoàng Văn Thụ và trường Hành chính - Pháp lý tỉnh. Trong hai trường tiền thân, Trường Đảng Hoàng Văn Thụ đã được thành lập trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Thông báo số 695-TB/TU ngày 07/7/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá (khoá XVI) về xác định ngày truyền thống của Trường chính trị tỉnh Thanh Hoá là ngày 04/6/1949 theo "Quyết nghị án" Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ II. Đến nay, Trường đã trải qua 60 năm xây dựng và phát triển.
Trường có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, quản lý nhà nước, quản lý pháp luật, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng, công tác đoàn thể cho cán bộ chủ chốt ở cơ sở trong tỉnh và tham gia nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn ở địa phương. Trải qua 60 năm xây dựng và trưởng thành, tuy có những nhiệm vụ cụ thể khác nhau trong các thời kỳ cách mạng, song tập thể nhà trường luôn đoàn kết, quán triệt chủ trương, Nghị quyết của Đảng, bám sát chức năng, nhiệm vụ, không ngừng đổi mới, phát triển và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị. Điều đó được thể hiện toàn diện ở các mặt hoạt động của trường.
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
- Trong giai đoạn từ năm 1949 đến năm 1954, khi cuộc kháng chiến chống thực dân pháp xâm lược bước sang giai đoạn tích cực cầm cự chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công, khi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đòi hỏi có một đội ngũ cán bộ đông đảo, đáp ứng yêu cầu của cả hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Nhiệm vụ chính trị của Trường là mở những lớp huấn luyện chính trị ngắn ngày, bồi dưỡng cho cán bộ những hiểu biết về cuộc kháng chiến, truyền đạt những Chỉ thị, Nghị qquyết của tỉnh và tình hình nhiệm vụ của đất nước, nâng cao tinh thần yêu nước, đạo đức cách mạng.
- Trong giai đoạn từ 1954 - 1975: Dưới sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, sự chỉ đạo của Ban Tuyên huấn Trung ương, nhà trường đã bám sát chức năng, nhiệm vụ, nhanh chóng chuyển hướng đào tạo, bồi dưỡng sát với tình hình, nhiệm vụ của đất nước là thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là: "Cách mạng XHCN ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc". Điều đó được thể hiện cụ thể là nhà trường vừa tiếp tục mở các lớp bồi dưỡng ngắn ngày, trang bị những vấn đề về dường lối, chính sách, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, cải thiện đời sống nhân dân ... vừa chuẩn bị đào tạo dài hạn cho cán bộ cơ sở, nhằm trang bị những hiểu biết cần thiết về lý luận Mác-Lênin, về đường lối, chính sách của Đảng, về công tác Đảng và công tác vận động quần chúng sát với tình hình, nhiệm vụ của đất nước. Khi đế quốc Mỹ liều lĩnh gây chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, trước tình hình và nhiệm vụ mới đó, nhà trường đã nhanh chóng chuyển hướng hoạt động vừa bảo đảm an toàn, vừa tiếp tục đào tạo với yêu cầu là trang bị cho cán bộ những hiểu biết về chiến đấu, phục vụ chiến đấu và tổ chức sản xuất, bảo đảm đời sống trong điều kiện có chiến tranh, mặt khác phải đào tạo nhanh để cung cấp kịp thời cán bộ cho kháng chiến. Hiệp định Pari được ký kết, thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam lúc này chỉ còn là vấn đề thời sự, dân tộc ta sẽ bước vào một thời kỳ phát triển rực rỡ với nhiệm vụ nặng nề to lớn vẻ vang hơn. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đó, quán triệt Nghị quyết số 23-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam (khoá III) về công tác giáo dục chính trị. Nghị quyết Trung ương khẳng định: "Đại bộ phận cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý cơ sở phải học xong chương trình lý luận trung cấp" và "đi đôi với việc giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, phải giáo dục kiến thức về quản lý kinh tế, về chuyên môn kỹ thuật tương xứng với nhiệm vụ được giao".
Trước yêu cầu của công tác giáo dục lý luận chính trị, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Ban Tuyên huấn Trung ương, nhà trường đã làm tốt chương trình đào tạo sơ cấp và chuẩn bị cho việc đào tạo trung cấp lý luận chính trị.
- Trong giai đoạn từ năm 1975 - 1985: Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước. Giai đoạn mới đặt ra cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ những nhiệm vụ mới, yêu cầu mới. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (tháng 12/1976) đã chỉ rõ: "Ngày nay khi nước nhà đã được hoàn toàn độc lập và thống nhất, những vấn đề xây dựng CNXH đặt ra với tất cả chiều sâu, tầm cỡ rộng lớn và tính cụ thể của nó. Điều đó đòi hỏi Đảng phải có sự nỗ lực đặc biệt trong công tác lý luận".
Để làm tốt hơn nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong giai đoạn cả nước tiến hành cách mạng XHCN, nhà trường vừa tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo sơ cấp lý luận, vừa tiến hành đào tạo thí điểm chương trình trung cấp lý luận chính trị theo sự chỉ đạo của Ban Tuyên huấn Trung ương vào những năm 1976, 1977, 1978 và từng bước vươn lên đảm nhiệm toàn bộ đào tạo chương trình trung cấp lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ cơ sở, các Ban, ngành, huyện, thị của địa phương bằng cả hai hình thức đào tạo tập trung chính quy và đào tạo tại chức ở các huyện, thị xã với số lượng lớn, đáp ứng yêu cầu hoạt động thực tiễn của địa phương và tăng cường lực lượng cán bộ, giảng viên cho một số trường ở các tỉnh phía Nam.
- Giai đoạn từ năm 1986 - 1993: Quán triệt sâu sắc đường lối đổi mới toàn diện đất nước, theo định hướng XHCN của Đảng và rút kinh nghiệm của những khoá đào tạo trước, nhà trường đã từng bước đưa việc mở lớp đào tạo cốt cán cơ sở vào nền nếp, theo chức danh cương vị trách nhiệm được phân công, bao gồm các lớp: Quản đốc phân xưởng, chánh phó giám đốc xí nghiệp, Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch UBND xã, Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp. Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ nêu trên, nhà trường đã coi trọng việc đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướng gắn hoạt động giảng dạy, học tập với đời sống thực tiễn. Tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, đưa cán bộ, giảng viên và học viên đi nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn ở các mô hình tiên tiến lúc bấy giờ như Yên Trường, Định Công (Yên Định), Xuân Thành, Đông Phương Hồng (Thọ Xuân). Vào những năm 1989, 1990, 1991 tình hình kinh tế của đất nước còn nhiều khó khăn, tình hình thế giới biến động phức tạp, chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, song nhà trường vẫn kiên định với mục tiêu lý tưởng của Đảng, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, duy trì quy mô đào tạo, bồi dưỡng, góp phần vào sự ổn định tư tưởng của cán bộ, đảng viên, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự thành công của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
- Giai đoạn từ năm 1994 đến nay: Thực hiện chủ trương của Trung ương về việc sắp xếp lại các trường Đảng, trường Hành chính địa phương, ngày 25/6/1994, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá ra Thông báo số 87-TB/TU về việc thành lập trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trên cơ sở thống nhất trường Đảng Hoàng Văn Thụ và trường Hành chính - pháp lý tỉnh, ngày 28/7/1994 UBND tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định số 853/TU-UBTH về việc thành lập trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh, ngày 05/9/1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VII) ra Quyết định số 88-QĐ/TW về việc thành lập Trường chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngày 02/11/1994, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá ra thông báo số 96-TB/TU về việc đổi tên trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tỉnh thành Trường chính trị tỉnh. Đây là mốc quan trọng đối với sự phát triển của Trường chính trị tỉnh Thanh Hoá trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Các Quyết định của Trung ương, của Thường vụ Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Thanh Hoá tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò, chức năng của Trường chính trị tỉnh Thanh Hoá trong giai đoạn cách mạng mới - giai đoạn đổi mới toàn diện và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, quê hương.
Triển khai thực hiện quyết định của Trung ương và của cấp uỷ địa phương, nhà trường đã thực hiện đổi mới mạnh mẽ, toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó được thể hiện cụ thể như sau:
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã bám sát mục tiêu, yêu cầu định hướng của chiến lược cán bộ, gắn kết chặt chẽ với công tác quy hoạch cán bộ; coi trọng chất lượng đào tạo; phân định rõ giữa đào tạo cơ bản với bồi dưỡng theo chức danh; rút ngắn thời gian đào tạo, chú trọng đào tạo tập trung. Đổi mới, hoàn thiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng chọn lọc, thiết thực, sát với đối tượng và mục tiêu đào tạo, bao gồm 3 chương trình đào tạo chính: Trung cấp lý luận chính trị (nay là trung cấp lý luận chính trị - hành chính), Trung cấp hành chính - văn thư, Trung cấp pháp lý.
Thực hiện đào tạo toàn diện, chú trọng nâng cao trình độ kiến thức với rèn luyện năng lực tư duy khoa học, khả năng xử lý tình huống; trau dồi đạo đức, lối sống; gắn bồi dưỡng lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành; áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực nhằm phát huy cao độ tính chủ động, tích cực của người học. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và góp phần vào việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của cấp uỷ và chính quyền địa phương. Coi trọng việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên về mọi mặt cả về chuyên môn, nghiệp vụ, cả về phẩm chất đạo đức, lương tâm nghề nghiệp đối với sự nghiệp trồng người của Đảng. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất - kỹ thuật của trường để đáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của địa phương trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, quê hương. Đáp ứng yêu cầu cán bộ cho sự nghiệp đổi mới, từ năm 1994 đến nay nhà trường đã mở rộng quy mô đào tạo, trung bình hàng năm có từ 50 đến 70 lớp với số lượng học viên từ 2.500 đến 3.000 học viên theo học ở các hệ đào tạo, bồi dưỡng của trường (tập trung và tại chức). Hàng vạn cán bộ của hệ thống chính trị của địa phương được đào tạo, bồi dưỡng sau khi ra trường đã phát huy tác dụng tốt, góp phần tích cực vào sự thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước, quê hương.
* Công tác nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tế, tổng kết thực tiễn:
Được nhà trường coi trọng đúng mức và đã đạt được kết quả thiết thực. Mỗi năm, nhà trường tổ chức nghiên cứu từ 5 đến 7 đề tài khoa học cấp khoa, 1 đề tài khoa học cấp trường và bình quân cứ 2 năm có 1 đề tài khoa học cấp tỉnh. Một số cán bộ, giảng viên của trường đã tích cực viết bài cho các báo, tạp chí ở Trung ương và địa phương. Đồng thời nhà trường đã phối hợp với một số Ban, ngành ở Trung ương và địa phương tham gia nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn về nội dung chương trình và đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập. Các đề tài khoa học của trường đều tập trung vào việc làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng; đổi mới nội dung, chương trình nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, quê hương.
* Xây dựng đội ngũ: Trải qua 60 năm xây dựng, đến nay đội ngũ giảng viên của trường đã lớn mạnh với 85 giảng viên cơ hữu đã được chuẩn hoá, trong đó có 3 Tiến sỹ, 27 Thạc sỹ và đang có 15 giảng viên đang học cao học ở Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh và một số trường Đại học khác. Nhà trường đã có nhiều giảng viên đạt giảng viên dạy giỏi các cấp: 9 cấp quốc gia; 12 cấp tỉnh; 30 cấp trường và có 2 cán bộ, giảng viên được Nhà nước phong tặng Nhà giáo ưu tú.
* Xây dựng cơ sở vật chất và chăm lo đời sống cán bộ, viên chức:
Trường đã có bề dầy lịch sử 60 năm, song trong hai cuộc kháng chiến nhất là thời kỳ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc, nhà trường đã phải đi sơ tán nhiều nơi trong tỉnh nên cơ sở vật chất đã trải qua những năm tháng khó khăn, thiếu thốn. Đến năm 1999 nhà trường được tỉnh đầu tư xây dựng kiên cố, đáp ứng yêu cầu cần thiết cho công tác giảng dạy, học tập và làm việc của nhà trường, bao gồm: Khu giảng đường 20 phòng học, khu nội trú 3 nhà 150 phòng ở có sức chứa 600 học viên, khu nhà ăn tập thể 300 người, khu nhà cơ quan và 1 hội trường lớn 400 ghế ngồi, khu nhà thư viện với 5.000 đầu sách, 2 phòng vi tính 80 máy, 1 phòng Láp học ngoại ngữ. Với quan điểm tạo điều kiện để mọi cán bộ, viên chức của trường phát huy tối đa năng lực của mình, giải quyết hài hoà giữa nghĩa vụ lao động với quyền lợi lao động, những năm gần đây, cùng với việc phát triển quy mô đào tạo, đời sống của cán bộ, viên chức cũng được cải thiện cơ bản. Để đảm bảo dân chủ, công bằng trong việc giải quyết việc làm với thu nhập, chuyên môn đã phối hợp với công đoàn thường xuyên xem xét, điều chỉnh về chế độ làm thêm giờ, vượt giờ chuẩn, phúc lợi, dịch vụ đời sống ... do đó đời sống của cán bộ, viên chức từng bước được cải thiện. Hoạt động văn hoá trong trường được cải thiện thông qua các hội diễn văn nghệ, hoạt động thể thao, giải thi đấu thể thao hàng năm.
* Phương hướng, mục tiêu phấn đấu của trường trong 10 năm tới (2010 - 2020):
Mục tiêu phát triển của trường đến năm 2020 là: "Phát huy truyền thống, đổi mới, sáng tạo phấn đấu vì sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng với chất lượng và hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, quê hương".
BẢNG VÀNG THÀNH TÍCH CỦA TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH THANH HOÁ
Ghi nhận quá trình phát triển và những thành tích đã đạt được, nhất là 15 năm gần đây, nhà trường đã được Nhà nước, các ngành, các cấp tặng nhiều danh hiệu cao quý:
- Năm 1998: Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng ba
- Năm 2000: Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng nhì
- Năm 2009: Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng nhất
- Từ năm 1996 - 2009: Nhà trường được Chính phủ, Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Bộ Công an, Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh v.v. tặng nhiều Cờ thi đua và nhiều Bằng khen.
Đảng bộ nhà trường được công nhận Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; các đoàn thể quần chúng (Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh) được công nhận tổ chức vững mạnh.
Phát huy những kết quả và thành tích đã đạt được trong 60 năm qua, Trường chính trị tỉnh tin tưởng dưới dự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, nhà trường tiếp tục phát triển ở nấc thang cao hơn trong thời kỳ mới.