Đỗ Phương Anh - Khoa Nhà nước và Pháp luật
Vào thế kỷ thứ XV, dưới triều đại Lê sơ có rất nhiều văn bản pháp luật được ban hành, trong đó thời kỳ vua Lê Thánh Tông - vị minh quân trị vì suốt gần 40 năm đã ban hành Bộ Quốc Triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức - Bộ luật được xem là tiến bộ nhất, đặc sắc nhất trong hệ thống pháp luật phong kiến, biểu tượng của triều đại hoàng kim nhất trong lịch sử Việt Nam, là sự kết hợp hài hòa, sáng tạo giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh, là sự học hỏi thành tựu, tinh hoa của pháp luật hướng Nho của Trung Quốc và vận dụng sáng tạo vào điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam mà giá trị của nó vẫn còn ảnh hưởng to lớn đến xã hội ngày nay.
Cũng như các văn bản pháp luật phong kiến khác, Bộ luật Hồng Đức thể hiện rõ bản chất giai cấp. Mục tiêu hàng đầu là bảo vệ vương quyền, địa vị quyền lợi của giai cấp phong kiến; củng cố trật tự đẳng cấp xã hội và gia đình gia trưởng phong kiến; trọng nam khinh nữ.... Tuy nhiên khi xem xét Bộ luật Hồng Đức trong bối cảnh chế độ phong kiến thế kỷ XV, khi mà Nho giáo trở thành quốc giáo, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội thì Bộ luật Hồng Đức có rất nhiều điểm tiến bộ, trong đó bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ được coi là một giá trị tiến bộ nổi bật nhất, có vai trò đặc biệt trong lịch sử pháp quyền phong kiến Việt Nam.
1. Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong lĩnh vực hình sự
Một trong những nguyên tắc áp dụng hình phạt của Bộ luật Hồng Đức là nguyên tắc chiếu cố đối với phụ nữ. Trong lượng hình hoặc thi hành hình phạt, nhà làm luật đã cho phép nữ phạm nhân áp dụng hình phạt nhẹ hơn so với nam giới hoặc được hưởng những đặc ân. Ví dụ: Theo điều 1, khi phạm tội đồ hoặc lưu, nam phạm nhân bao giờ cũng bị đánh thêm trượng, còn nữ phạm nhân chỉ phải tội chịu roi hoặc theo điều 680, nữ phạm nhân bị tội tử, tội xuy mà đang có thai thì phải đủ 100 ngày sau khi sinh con mới bị đem ra hành hình hoặc đánh roi.
Có một số tội danh, nếu người phạm tội là phụ nữ thì được giảm nhẹ, như việc xử lý tội ăn trộm, ăn cướp: "Ăn trộm mà có cầm khí giới thì xử tội ăn cướp và có giết người thì xử tội giết người. Đàn bà được giảm tội" (điều 429) hoặc trường hợp đầy tớ ăn trộm đồ của chủ, nếu là "tớ gái thì được giảm tội" (điều 441)
Bộ luật Hồng Đức xử rất nặng đối với những trường hợp xâm phạm thân thể, tiết hạnh của người phụ nữ, kẻ nào "hiếp dâm thì xử lưu hoặc chết. Phải nộp tiền tạ tội hơn một bậc tiền tạ tội gian dâm thường. Nếu gây thương tích cho người đàn bà thì xử nặng hơn một bậc so với đánh người thường bị thương. Nếu làm chết người đàn bà thì điền sản kẻ phạm tội phải giao cho nhà người bị chết" (Điều 403); "Gian dâm với con gái nhỏ 12 tuổi trở xuống, dù nó thuận tình thì vẫn xử như tội hiếp dâm" (Điều 404).
2. Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong lĩnh vực dân sự
Tính đặc thù của Bộ luật Hồng Đức là bảo vệ quyền lợi người phụ nữ được thể hiện rõ nét nhất trong 2 chương "Hộ hôn" và "Điền sản". Qua hai chương này, các nhà làm luật đã đề cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội - điều mà các nhà làm luật phong kiến trước đó và sau này không mấy quan tâm. Có 53/722 điều luật bàn về hôn nhân - gia đình; 30/722 điều luật bàn về việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản. Theo quan niệm Nho giáo, người phụ nữ "xuất giá tòng phu", bị lệ thuộc vào chồng và không được làm điều gì nếu không có sự chỉ đạo hay đồng ý của người chồng. Nhưng Bộ luật Hồng Đức vẫn cho phép người phụ nữ được quyền có tài sản riêng và được tham gia các hoạt động kinh tế. Đó là điểm khác biệt so với phụ nữ phong kiến Trung Quốc. Trong lao động, phụ nữ được trả công ngang bằng với nam giới, "không có sự phân biệt về tiền công nhật cho lao động đàn ông với đàn bà" (điều 23). Điều đó cho thấy lao động của phụ nữ được đánh giá cao và vị trí của người phụ nữ được tôn trọng trong xã hội.
Những luật lệ về điền sản cho thấy nhà nước thời hậu Lê đã bảo vệ tục chia gia tài chia ruộng đất cho con cái không phân biệt con trưởng, con thứ, con gái, con trai. Điều 388 quy định: "Nếu cha mẹ mất cả thì lấy 1/20 số ruộng đất làm phần hương hỏa, giao cho người con trưởng giữ, còn lại chia đều cho các con"; Điều 391 quy định "người giữ hương hỏa có con trai trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai thì dùng con gái trưởng".
Trong lĩnh vực thừa kế theo luật, điều 375 quy định "...nếu chồng chết trước thì ruộng đất do nhà chồng cho được chia làm 2 phần bằng nhau. Một nửa thuộc về người thừa tự, nửa kia người vợ được hưởng suốt đời nhưng không được bán; nếu là ruộng đất do 2 vợ chồng tần tảo làm lụng mua được được chia làm 2 phần bằng nhau. Vợ được nhận một nửa làm của riêng, nửa của người chồng chết được chia làm 3 phần, cho vợ 2 phần để hưởng suốt đời nhưng không được làm của riêng...".
So với pháp luật phương Đông, kể cả pháp luật của một số nước phương Tây cùng thời, những quy định này đã tạo nên sự khác biệt của Bộ luật Hồng Đức. Đó là sự sáng tạo theo xu hướng tiến bộ, bình đẳng giữa nam giới và nữ giới. Tư tưởng pháp luật này đã vượt xa tư tưởng pháp luật phương Đông cùng thời.
3. Bảo vệ quyền lợi người phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Với sự độc tôn của tư tưởng chính trị Nho giáo, bảo vệ trật tự xã hội gia đình phong kiến nhưng các nhà làm luật triều Lê vẫn chú trọng tới quyền lợi của người phụ nữ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
Thứ nhất, về kết hôn
Bộ luật Hồng Đức quy định rất nhiều các điều kiện mà hai bên nam nữ phải tuân theo khi kết hôn nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong đó điều 338 quy định: "Cấm nhà quyền thế ức hiếp để lấy con gái kẻ lương dân".
Thủ tục kết hôn theo quy định của Bộ luật Hồng Đức có 2 giai đoạn: đính hôn và thành hôn. Trong thời gian đính hôn, nếu người con trai bị ác tật, phạm tội hoặc phá sản thì người con gái có quyền từ hôn. Điều 322 ghi nhận: "Con gái thấy chồng chưa cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ".
Thứ hai, trong quan hệ giữa vợ và chồng
Theo Bộ luật Hồng Đức người vợ tương đối bình quyền với người chồng, do đó hôn nhân không được coi là sự chuyển giao hoàn toàn cô gái từ gia đình bên nội của mình sang gia đình nhà chồng như ở Trung Quốc. Không những thế luật pháp còn có nhiều quy định cụ thể bảo vệ người phụ nữ. Ví dụ điều 482 quy định: "Người chồng phải có nghĩa vụ cưu mang, cấp dưỡng cho vợ, con và không được ngược đãi vợ một cách dã man. Nếu đánh vợ bị thương sẽ bị trừng phạt...".
Thứ ba, về ly hôn
Nếu như luật phong kiến trước đó cho phép người chồng được hoặc buộc phải ly hôn vợ khi vợ phạm lỗi "thất xuất" còn người vợ không được phép bỏ chồng trong mọi trường hợp thì đến Bộ luật Hồng Đức ngoài việc kế thừa quy định trên, Bộ luật này đã đưa ra điều kiện "Tam bất khứ" để hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng khi vợ phạm lỗi "thất xuất", đó là các trường hợp: Đã để tang nhà chồng 3 năm, khi lấy nhau nghèo mà sau giàu có, khi lấy nhau có bà con mà khi bỏ lại không có bà con để trở về.
Ngoài ra, Bộ luật Hồng Đức còn cho phép người vợ được quyền trình quan xin ly hôn chồng khi xảy ra một trong hai trường hợp: Chồng bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại, nếu đã có con thì 1 năm (Điều 308) hoặc chồng mắng nhiếc cha mẹ vợ một cách phi lý (Điều 333).
Về hậu quả pháp lý của ly hôn, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng hoàn toàn chấm dứt, hai bên đều có quyền kết hôn với người khác mà không bị pháp luật ngăn cấm.
Về tài sản, luật xác định tài sản được hình thành từ 3 nguồn: tài sản của chồng được thừa kế từ gia đình chồng; tài sản của người vợ được thừa kế từ gia đình nhà vợ và tài sản do vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân. Nếu ly hôn không do lỗi của người vợ thì phần tài sản riêng người vợ có quyền mang về nhà mình và tài sản chung được chia đôi.
Về con cái, khi li hôn, con cái thuộc về người chồng, nhưng nếu muốn giữ con, người vợ có quyền đòi chia một nửa số con.
Ngoài những lĩnh vực kể trên, Bộ luật Hồng Đức còn có các quy định trong lĩnh vực tố tụng mà ở đó ta cũng có thể bắt gặp những quy định đề cập đến việc bảo vệ quyền lợi người phụ nữ. Trong trường hợp người phụ nữ có việc liên quan đến kiện tụng thì quyền lợi của họ cũng được bảo vệ ở mức độ nhất định. Ví dụ, điều 409 quy định "nếu quan cai ngục, lại ngục, ngục tốt gian dâm với đàn bà, con gái có chuyện thưa kiện thì tội nặng hơn 1 bậc so với tội gian dâm thông thường. Nếu có thuận tình giảm 3 bậc tội cho các gian phụ ấy...".
Kế thừa và phát huy giá trị tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức, Nhà nước ta đã ban hành nhiều quy phạm pháp luật cụ thể để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ như: Quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử và không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân. (điều 35 - Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009); Bộ luật Dân sự năm 2005 ghi nhận và bảo vệ quyền sở hữu của mọi cá nhân, không phân biệt nam, nữ. Trong lĩnh vực thừa kế theo luật, con trai cũng như con gái đều có quyền hưởng di sản như nhau. Đặc biệt trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình, một trong những nguyên tắc quan trọng là . Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ, trẻ em, giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ (Khoản 6 điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000) theo đó vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình (điều 19); có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung (điều 28); Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng (điều 31); có quyền yêu cầu cấp dưỡng nếu một bên vợ hoặc chồng rơi vào hoàn cảnh khó khăn túng thiếu mà không có tài sản để tự nuôi mình (điều 60); người chồng không có quyền xin ly hôn khi vợ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi(điều 85) Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng; khi ly hôn tài sản chung chia đôi nhưng phải đảm bảo quyền lợi của phụ nữ và trẻ em (điều 95)...
Như vậy, mặc dù có những hạn chế mang đặc trưng của pháp luật phong kiến Việt Nam nhưng so với các văn bản pháp luật phong kiến khác, Bộ luật Hồng Đức đã có rất nhiều điểm tiến bộ, trong đó bảo vệ quyền lợi người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình là một trong những yếu tố tạo nên giá trị lịch sử xã hội lớn lao cho Bộ luật Hồng Đức và có ý ngĩa quan trọng trong công cuộc giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.





















