Hien phap 1992 
trang tho
Quả cầu http://www.tgvn.com.vn/Home/VN/
forum http://truongchinhtri.vnptsoft.com/
HỌC VIEN http://www.hcma.vn/
Công báo http://www.chinhphu.vn/
Đảng CS http://www.cpv.org.vn/
boGD http://www.moet.gov.vn/
Cải cách hành chính nhà nước
 

Tìm hiểu khái niệm Cải cách hành chính nhà nước và

 một số nét đặc trưng của nền hành chính Việt Nam.

                                                                                 Giảng viên: Phạm Thị Hoài Thu

                                                                                                            Khoa Pháp luật

                                                                                Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá

          Thuật ngữ "cải cách" được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ phương Tây và phương Đông, được hiểu là một quá trình, một hoạt động có ý thức, mục đích làm thay đổi, cải biến những cái cũ theo hướng tốt hon hoặc thay thế cái cũ bằng cái mới. Cải cách có thể diễn ra ở những cấp độ, mức độ khác nhau. Có những cuộc cải cách có tính chất cách mạng, có những cuộc cải cách chỉ là sự đổi mới nhất định như thay đổi ít nhiều so với ban đầu. Cải cách: là thay đổi những bộ phận cũ không hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan. Cải cách bao gồm tập hợp của nhiều cải tiến, sáng kiến, biến đổi. Với ý nghĩa đó, cải cách hiện diện trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: Cải cách giáo dục, cải cách hành chính, cải cách tư pháp...

         Cải cách hành chính với tư cách là hành vi của con người nhằm cải biến nền hành chính của một quốc gia theo hướng hoàn thiện hơn thì đã xuất hiện từ lâu trên thế giới. Sử sách còn ghi lại những động thái đầu tiên về cải cách hành chính ở Trung Hoa cổ đại của Vương Mông vào đời nhà Tần ở thế kỷ III trước công nguyên, ở Nhật vào thời Minh Trị Thiên Hoàng 1852-1912, ở Việt Nam vào thời Minh Mạng 1791-1841...Tuy nhiên, cải cách hành chính với tư cách là khái niệm của hành chính học thì xuất hiện rất muộn. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: khái niệm cải cách hành chính chỉ xuất hiện chính thức trong tác phẩm "Cải cách hành chính" của nhà hành chính học người Mỹ G.E.Caiden năm 1969. Theo ông, cải cách hành chính là "sự tác động nhân tạo của việc chuyển đổi hành chính chống lại sự kháng cự".

       Sau đó ít lâu, trong một Hội Nghị của Liên Hiệp Quốc tổ chức năm 1971, cải cách hành chính được định nghĩa là: Những nỗ lực được thiết kế một cách đặc biệt để tạo nên các thay đổi cơ bản trong hệ thống hành chính công thông qua các cuộc cải cách rộng rãi trong hệ thống hay ít nhất là thông qua các biện pháp nhằm cải tiến một vài yếu tố cơ bản như các cơ cấu hành chính, nhân sự và các quá trình hành chính.

        Theo giáo sư Trương Hoàng Lem, cố vấn của L.T - Asscoites, Inc.Washinhton thì cải cách hành chính có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, cải cách hành chính là sự biến đổi với toàn bộ thể chế và cơ cấu hành chính của Chính Phủ.Theo quan niệm của trương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) thì đây là phương tiện cải cách hành chính - kỹ thuật. Còn hiểu cải cách hành chính theo nghĩa hẹp sẽ bao gồm cải cách phương pháp, cách thức nguyên tắc hành chính trong cơ cấu thể chế hành chính. Theo quan niệm của Ngân hàng Thế giới (WB) và quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thì cải cách hành chính là cải cách dưới góc độ kinh tế - tài chính.

         Nhiều người thừa nhận rằng, một trong những vấn đề khó khăn nhất của khái niệm cải cách hành chính về ngữ nghĩa đó là việc sử dụng tuỳ tiện các từ "cải cách" với "biến đổi" hoặc "cải  tiến". Số đông đều không đồng tình với việc thay thế lẫn nhau giữa ba từ này. Cải cách hành chính chỉ là "một nhân tố tương đối nhỏ trong tổng thể những biến đổi xã hội" và biến đổi xã hội chỉ là "một bộ phận của dòng tiến hoá không ngừng đặc trưng cho vũ trụ".

       Mặt khác, cũng cần phân biệt cải cách hành chính với những biến đổi thông thường, những việc làm cần thiết và thường được gọi là "cải tiến" trong nền hành chính. Những cải tiến đó thường được tiến hành trên cơ sở một nền hành chính tương đối ổn định, hợp lý và vận hành bình thường. Chúng là những đổi mới, cải thiện ở một số bộ phận, quá trình nhất định để nền hành chính được hoàn thiện thêm. Về quy mô và phạm vi, những "cải tiến" trong nền hành chính thường được giới hạn ở một lĩnh vực hẹp của nền hành chính công, diễn ra trong thời gian ngắn nhằm đáp ứng những cục bộ, phiến diện, cấp thiết của nền hành chính. Như vậy, "cải tiến hành chính" được hiểu như là sự tự điều chỉnh của nền hành chính. Trong khi đó, cải cách hành chính được nhìn nhận có tầm vóc và phức tạp hơn: nó là một chủ trương tập trung vào nhiều nội dung, yêu cầu lớn chứ không chỉ là các vấn đề bình thường mang tính cải tiến. Nó đòi hỏi từ việc nghiên cứu toàn diện các quan điểm, nguyên tắc cho cải cách hành chính, cho đến việc xây dựng một chiến lược dài hạn với các chương trình trung hạn, ngắn hạn về những vấn đề và phương thức cải cách.Về phạm vi, cải cách hành chính đụng chạm đến các phương diện thiết chế tổ chức, pháp lý, nhân sự, tài chính dù chỉ là các bộ phận nhỏ của nền hành chính. Như vậy, nếu cải tiến hành chính chủ yếu chỉ đem tới sự thay đổi về lượng thì cải cách hành chính là sự thay đổi về chất, là một dạng (bộ phận) của biến đổi xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Ý thức rõ về điều này sẽ có ý nghĩa rất lớn không chỉ trong việc hoạch định chiến lược, nội dung cho cải cách hành chính mà còn không đồng nhất cải cách hành chính với những thay đổi, bổ sung bình thường trong nền hành chính.

          Với những nhận định trên, chúng ta có thể hiểu: Cải cách hành chính là một quá trình bằng việc cải biến có kế hoạch đồng bộ chế độ hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương pháp hành chính mới trên các phương diện: thể chế hành chính, cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính, đội ngũ cán bộ công chức và tài chính công nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nền hành chính Nhà nước.

Từ việc tìm hiểu, phân tích để xác định khái niệm cải cách hành chính thì việc nghiên cứu để tìm ra những nét đặc trưng của nền hành chính một nước là hoạt động hết sức quan trọng giúp cho việc thực hiện cải cách hành chính có hiệu quả. Cải cách hành chính Ở Việt Nam là phải tiến hành một cuộc cải cách hành chính có tính chất cách mạng từ quản lý lập trung quan liêu, bao cấp sang quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng dân chủ. Điều này chưa từng có tiền lệ. Do vậy, Nền hành chính Việt Nam có những nét đặc trưng chung của nền hành chính như: Nền hành chính mang tính liên tục, tương đối ổn định và thích ứng, nền hành chính mang tính chuyên môn hoá, kỹ năng hành chính và nghề nghiệp cao, nền hành chính có tính hệ thống, thứ bậc chặt chẽ...Và bên cạnh đó, xuất phát từ các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội...nên nền hành chính Việt Nam có những nét đặc trưng riêng, theo chúng tôi đó là:

          Thứ nhất: nền hành chính mang tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị, phục vụ chính trị với một Đảng duy nhất lãnh đạo.

Để quản lý xã hội có hiệu lực và hiệu quả, nền hành chính Nhà nước hoạt động có tính nghiệp vụ và kỹ năng, kỹ thuật hành chính đặc trưng, riêng biệt. Nền hành chính Nhà nước phục vụ cho một mục tiêu chính trị và thực hiện những nhiệm vụ chính trị do Đảng cầm quyền quyết định. Nền hành chính quốc gia là trung tâm thực thi có hiệu lực của hệ thống quyền lực chính trị.

         Nhà nước XHCN Việt Nam,  tính lệ thuộc của nền hành chính vào chính trị xuất phát từ bản chất nhà nước Việt Nam kiểu mới và cơ cấu tổ chức xây dựng hệ thống thể chế chính trị tổng quát là "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" đã tạo ra khuôn khổ chung lâu dài về chế độ dân chủ, kỷ cương. Từ đó, nền hành chính ở Nhà Nước ta hoàn toàn lệ thuộc vào chính trị, hệ thống chính trị và phục vụ chính trị bởi lẽ ở Nhà Nước ta mọi chính sách, pháp luật cũng như chủ trương thực hiện Chương trình cải cách hành chính Nhà Nước đều trên cơ sở đường lối lãnh đạo, cương lĩnh chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam. Với chế độ duy nhất một Đảng cầm quyền và lãnh đạo, nền hành chính Việt Nam luôn phục tùng tuyệt đối, toàn diện sự lãnh đạo của Đảng.

        Nhà nước Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Điều này đã được khẳng định trong Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay: "Đảng Cộng sản Việt nam là Đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân..." Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị lãnh đạo Nhà nước và xã hội đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và của cả dân tộc. Đây là những vấn đề mang tính nguyên tắc có tính chính trị- xã hội định hướng cho việc xây dựng hệ thống chính trị và nền hành chính của nước ta trên thực tế. Mọi hoạt động của Nhà nước đều lệ thuộc vào thể chế một Đảng duy nhất lãnh đạo - Đảng cộng sản Việt Nam. Trên cơ sở đó, nền hành chính nhà nước phải mang đầy đủ bản chất của nhà nước ta, nhà nước dân chủ XHCN, có bản chất giai cấp công nhân, tính chất nhân dân và truyền thống dân tộc, đó thực sự là một nền hành chính phục vụ nhân dân, đầy tớ của dân, nền hành chính luôn chống chủ nghĩa quan liêu. . song, Đảng không phải là cơ quan quyền lực nhà nước để thực thi quyền lực hành chính. Đảng không đứng trên cùng một mặt bằng quyền lực nhà nước, mà đứng ở tầm cao của Đảng lãnh đạo để lãnh đạo cả Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo chứ không chỉ đạo trực tiếp làm thay chức năng quyền lực hành chính nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng phải được luật hoá, thể hiện ở trong hệ thống pháp luật, thông qua đội ngũ cán bộ đảng viên và thiết chế bộ máy của hệ thống chính trị.   

                  Thứ hai: Nền hành chính mang tính quyền lực Nhà nước.

Quyền lực nhà nước được phân công cho các cơ quan nhà nước nhằm để phòng ngừa sự lạm dụng quyền lực, chuyển từ Vương quốc của một Ông Vua sang Vương quốc của Nhân Dân, từ xã hội Thần Dân sang xã hội Công Dân. Đó là tính ưu việt cực kỳ to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong việc phân công quyền lực nhà nước, là một thành tựu vĩ đại của văn minh nhân loại. Đối với nước ta, đây là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta đã giành được trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Nhà nước ta không độc lập, càng không đối lập, mà thống nhất với nhau trên cơ sở đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về tính chất, mối quan hệ và hoạt động của ba quyền này là sự phân công, phối hợp để thực hiện nhiệm vụ chung. Vì vậy, cần có sự phân định rành mạch, khoa học để các cơ quan thực hiện các quyền phát huy tính năng động, sáng tạo, hoạt động đúng thẩm quyền, và tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Đồng thời, có sự phối hợp, kiểm tra lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện các quyền để phát huy hiệu lực chung của quyền lực nhà nước thống nhất. Cải cách hành chính do đó cần được tổ chức triển khai toàn diện, đồng bộ, gắn kết với cải cách lập pháp và cải cách tư pháp.

       Cải cách bộ máy hành chính nhà nước trên cơ sở bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phân nhiệm một cách hợp lý giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó đặc biệt chú ý đến quyền hành pháp.

       Tính quyền lực nhà nước đòi hỏi các cơ quan hành chính và công chức phải đảm bảo tính quyền uy, nghĩa là phải nắm vững quyền lực, sử dụng đúng quyền lực, đồng thời phải tạo dựng uy tín về chính trị, về phẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ. Việc ban hành các văn bản pháp luật là cơ sở pháp lý để điều chỉnh mọi quan hệ trong xã hội, thực hiện hoạt động quản lý Nhà Nước. Với tư cách là công cụ quyền lực công, nền hành chính mang tính cưỡng chế, kết hợp với thuyết phục, giáo dục của Nhà nước, hoạt động theo những quyết định của pháp luật. Vì vậy, nền hành chính nhà nước ta đòi hỏi mọi cơ quan nhà nước, mọi tổ chức xã hội, mọi công chức và công dân phải tuân thủ tính chính quy, hiện đại của bộ máy, có kỷ luật và kỷ cương.

        Nền hành chính nhà nước ta hoạt động theo pháp luật và dựa vào pháp luật để thể hiện quyền lực của mình trong quá trình quản lý. Nền hành chính mang tính quyền lực Nhà Nước được biểu hiện bằng sự phục tùng mệnh lệnh, một bên chủ thể có thẩm quyền đơn phương ra quyết định và bắt buộc chủ thể bên kia phải phục tùng. Hành chính nhà nước mang tính cưỡng chế, yêu cầu mọi tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước và công dân phải tuân thủ các mệnh lệnh hành chính, đảm bảo và giữ vững kỷ cương, trật tự xã hội. Điều này đã được khẳng định trong điều 12 của hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật".

         Thứ ba: Nền hành chính mang tính nhân dân, phục vụ nhân dân và không vụ lợi.

       Xuất phát từ bản chất của Nhà Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và xuất phát từ yêu cầu cuộc sống, sát với hoàn cảnh thực tế của đất nước đồng thời phải thích ứng với xu thế của thời đại, nhằm thu hút được kết quả thiết thực, tác động tích cực đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội là phục vụ đắc lực và thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc tiếp tục sự nghiệp đổi mới, phát triển theo đất nước theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

        Do đó, nền hành chính Nhà nước chỉ có nhiệm vụ duy nhất là phục vụ lợi ích công và lợi ích công dân, không đòi hỏi người được phục vụ phải thù lao, không theo đuổi mục tiêu lợi nhuận. Nền hành chính Việt Nam với việc thực hiện cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính, hợp lý hoá trình tự giải quyết công việc trong quan hệ giữa các cơ quan công quyền với xã hội dân sự, với công dân, với doanh nghiệp đã đơn giản hoá các thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi tronh việc giải quyết công việc đã thể hiện rõ nét một Nhà nước với vai trò làm chủ là nhân dân. Vì vậy, nền hành chính Việt Nam luôn mang tính nhân dân, phục vụ nhân dân bảo đảm quyền và nghĩa vụ của công dân. Đồng thời, luôn đơn giản trong lề lối làm việc, trong sáng, tôn trọng con người, không độc đoán, cửa quyền, phiền hà, tham nhũng đối với dân và thực sự vì lợi ích của nhân dân, một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, tiết kiệm, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn.

       Xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, quản lý toàn xã hội một cách hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN. Yêu cầu này đòi hỏi trước hết phải xây dựng một nền hành chính dân chủ, pháp quyền. Đó là nền hành chính có tổ chức và hoạt động theo chuẩn mực pháp luật; bảo đảm, bảo vệ các quyền công dân bằng pháp luật. Công dân là người chủ thực sự, có quyền làm những việc pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nền hành chính tạo mọi điều kiện để công dân tham gia tích cực vào quá trình xây dựng luật pháp. Thông qua đó, các quyền tự do, dân chủ của công dân được thể chế hoá và mở rộng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Tiếp theo, nền hành chính bảo đảm các quyền công dân theo luật định được tôn trọng trên thực tế thông qua hệ thống lập quy và bằng các biện pháp cụ thể. Các chủ thể hành chính tuyệt đối tuân thủ pháp luật, chỉ được làm những việc mà pháp luật cho phép. Đồng thời, xây dựng một nền hành chính phát triển. Đó là nền hành chính vì dân, coi công dân là trung tâm và đề cao chức năng phục vụ công. Nền hành chính hướng tới sứ mệnh thoả mãn lợi ích chung của toàn xã hội và đáp ứng các nhu cầu chính đáng của nhân dân một cách chất lượng, hiệu quả, kinh tế nhất. Nền hành chính tạo mọi thuận lợi để công dân và các tổ chức của họ tham gia thực hiện các công việc nhà nước. Bằng hành động thực tiễn, nền hành chính quan tâm đảm bảo các quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm công bằng, bình đẳng, tạo điều kiện cần thiết để mọi thành viên xã hội với những địa vị, điều kiện, thể chất, ... khác nhau nhưng có cơ hội như nhau để phát triển; quan tâm giúp đỡ, cung cấp dịch vụ cho nhân dân vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn và những nhóm đối tượng yếu thế, có vị thế bất lợi trong nền kinh tế thị trường.

         Nền hành chính nhà nước dân chủ phục vụ đắc lực nhân dân, giữ vững trật tự kỷ cương xã hội theo pháp luật, đó là nền hành chính không có mục đích tự thân mà phải vì nhân dân phục vụ. Cơ quan công vụ là các thiết chế phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân. Cán bộ công chức gương mẫu chấp hành pháp luật, thực thi công vụ một cách phi vụ lợi, đặt lợi ích của xã hội, của công dân lên trên hết. Nhân dân là đối tác chính trong xây dựng và triển khai chính sách, được tạo mọi điều kiện để chủ động tham gia vào quá trình quản lý, cung ứng dịch vụ công; giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền, và có thể thông qua các đại biểu của mình bãi miễn chức vụ của cán bộ công chức không đủ uy tín, năng lực, với cơ chế thuận tiện, khả thi.

         Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001 ghi nhận quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền. Điều 2 ghi nhận: "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân , vì nhân dân".

          Thứ tư: Nền hành chính mang tính nhân đạo.

Nhà nước với tư cách là nhà hoạch định chiến lược, hoạch định chính sách và nhà cung ứng các dịch vụ công trong bối cảnh cụ thể của quốc gia và Bộ máy quản lý nhà nước tổ chức thực hiện những nhiệm vụ của nó như thế nào để với một chi phí thấp nhất có thể đạt được kết quả cao nhất.

        Nền hành chính Nhà nước Việt Nam thể hiện tính nhân đạo cao, do bản chất của Nhà nước dân chủ XHCN được Đảng và nhà nước ta đã dầy công xây dựng, điều đó được thấm nhuần và thể hiện đúng đắn từ trong những quy định của luật pháp, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam - trực tiếp là luật pháp hành chính, phải vừa xuất phát từ lợi ích của nhân dân, vừa chặt chẽ theo đúng các quy định của pháp luật, để bảo đảm trật tự công, thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng XHCN.

       Biểu hiện cụ thể, từ dân chủ XHCN Các cơ quan hành chính nhà nước phải chủ động xây dựng những kênh phù hợp cho mọi tầng lớp nhân dân tiếp cận và phản hồi thông tin về hoạt động quản lý của mình nhằm phát huy vai trò phản biện chính sách của xã hội và nâng cao trách nhiệm giải trình của bộ máy hành chính. Tăng cường các hình thức dân chủ trực tiếp; qua đó, động viên được nhân dân tham gia sâu rộng, thực chất hơn vào các hoạt động chính trị - xã hội. Khi hoạch định thể chế, pháp luật, Các văn bản, đề án phải phản ánh được ý nguyện của nhân dân, lợi ích chung của đất nước, quy luật tự nhiên của xã hội, bảo đảm quyền và lợi ích của công dân, ngăn chặn những nguy cơ vi phạm đến quyền con người từ bất kỳ chủ thể nào, kể cả từ phía Nhà nước, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ những hành vi công vụ đúng pháp luật, giúp người dân tham gia kiểm soát quyền lực hành pháp, quyền lực hành chính nhà nước. Chúng tôi thiết nghĩ trên đây là một số nét hết sức đặc thù của nền hành chính Việt Nam trong giai đoạn quá độ lên CNXH.

       Như vậy, khi xem xét về tổng thể, trong giai đoạn hiện nay Việt Nam chúng ta là một quốc gia đang tiến hành đổi mới toàn diện, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, mở rộng giao lưu và hội nhập quốc tế, thực hiện từng bước đổi mới hệ thống chính trị để ổn định và phát triển đất nước bền vững. Do đó, nền hành chính quốc gia là một bộ phận hết sức quan trọng của bộ máy Nhà nước, có vai trò trong việc thực thi quyền hành pháp để làm cho mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Có thể nói, năng lực, quyền lực, hiệu quả của Nhà nước xét đến cùng đều thể hiện ở hiệu quả hoạt động của nền hành chính quốc gia.      

Tài liệu tham khảo

  • 1. Mai Hữu Khuê (2000), Từ điển thuật ngữ hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội.
  • 2. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia.
  • 3. Nguyễn Hữu Khiển (2003), Tìm hiểu về hành chính nhà nước, Nxb Lao động, Hà nội.
Last update : 13/09/2011
 
 
Trang: 1 - Trang sau
Năm mới 2014
sinh năm Ngo
CCB4
CCB3
Ảnh Phòng Đào tạo
Cong_bo QD
Ban chap hanh cong doan
Hình ảnh xuân 2013
Họp Ban cán sự đầu năm 2013
Xuân Quý tỵ
footer