
LỜI DẠY THANH HÓA PHẢI TRỞ NÊN MỘT TỈNH KIỂU MẪU -
SỰ QUAN TÂM ĐẶC BIỆT CỦA BÁC HỒ ĐỐI VỚI THANH HÓA
TRONG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG
Hoàng Chí Bảo
GS.TS Triết học, chuyên gia cao cấp, ủy viên Hội đồng
Lý luận Trung Ương
1. Lời dạy của Bác Hồ với Thanh Hóa 65 năm về trước - Giá trị và ý nghĩa
Cách đây vừa đúng 65 năm, Bác về thăm đồng bào, cán bộ và chiến sỹ Thanh Hóa trong lúc cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược vừa mới bắt đầu. Bác Hồ và Trung ương với tầm nhìn chiến lược đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, sáng suốt vừa kháng chiến vừa kiến quốc, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát huy cao độ lòng yêu nước và truyền thống dân tộc, truyền thống anh hùng bất khuất chống giặc ngoại xâm đồng thời là truyền thống đạo đức, văn hóa, giàu lòng nhân ái, thương yêu đùm bọc nhau trong hoạn nạn để vượt lên mọi khó khăn, đánh thắng mọi kẻ thù, xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp và phát triển. Đó là sức mạnh và sức sống bền bỉ của đất nước - dân tộc và con người Việt Nam.
Thanh Hóa, một vùng đất thiêng, địa linh nhân kiệt, con người Thanh Hóa với cốt cách và tiềm năng sáng tạo được hun đúc từ lịch sử văn hóa của dân tộc Việt hàng ngàn năm là một phần máu thịt thiêng liêng của đất nước và dân tộc Việt Nam.
Bác Hồ lần đầu tiên về thăm Thanh Hóa ngày 20/02/1947, nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Thanh, chỉ dẫn nhiều điều quan trọng và vô cùng thiết thực lúc bấy giờ, trước khi cùng cơ quan đầu não về chiến khu Việt Bắc, chỉ huy cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, làm nên huyền thoại lịch sử của cả một dân tộc quyết giương cao ngọn cờ giải phóng, quyết giữ vững nền độc lập tự do của Tổ quốc, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ. Trong bộn bề công việc kháng chiến, trong khói lửa của chiến tranh vệ quốc, Bác Hồ vẫn tiên liệu đầy mưu lược, sáng suốt về một thế đi của nước, về một xu hướng phát triển của dân tộc, về thắng lợi của cách mạng, do đó phải bắt tay ngay vào những việc chuẩn bị cho tương lai. Người tin cậy và ký thác những công việc trọng đại đó vào đồng bào, cán bộ, chiến sỹ tỉnh Thanh, mong muốn Thanh Hóa phải được xây dựng thành một tỉnh kiểu mẫu cho cả vùng, cả nước noi theo. Chỉ trong một thời gian ngắn ngủi và trong hoàn cảnh vô cùng sôi động, khẩn trương lúc bấy giờ, Người đã nói, đã viết, đã căn dặn cán bộ và nhân dân Thanh Hóa bao điều quý giá. Thời gian cùng lùi xa, những lời căn dặn của Người giờ đây vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự, vẫn còn rất mới mẻ và hiện đại.
Hơn nữa, điều Người căn dặn tỉnh Thanh còn có ý nghĩa căn dặn chung đồng bào cả nước, những gì Người mong muốn cho Thanh Hóa trở nên giàu đẹp, phát triển thành một điển hình mẫu mực cũng mang ý nghĩa thôi thúc cả nước hướng tới đổi mới, tiến bộ và phát triển. Tình cảm và sự quan tâm của Người dành cho Thanh Hóa cũng đồng thời là dành cho cả nước. Đó là điều vô cùng sâu sắc và cảm động, riêng - chung hòa quyện làm một, Nhà - Làng - Nước là một, tình thương yêu dân chúng, đồng bào ở khắp mọi nơi, đồng bằng cũng như thượng du, người Kinh cũng như đồng bào các dân tộc thiểu số, giáo cũng như lương, từ trẻ em cho đến các cụ già... tất cả đều ở trong sự quan tâm rất mực chân thành và chu đáo của Người.
Thanh Hóa kỷ niệm 65 năm ngày Bác Hồ về thăm và căn dặn không chỉ là niềm vui và tự hào, không chỉ là ý thức trách nhiệm và quyết tâm nỗ lực hành động làm theo lời Bác dạy của đồng bào, cán bộ, đảng viên Thanh Hóa mà còn của toàn dân, toàn Đảng trong cả nước.
Tất cả đều toát lên sự giản dị mà vĩ đại, sự thiết thực mà vô cùng cao cả, cho hôm nay và cho mai sau mà Hồ Chí Minh thể hiện, mong muốn, ký thác tâm nguyện cùng khát vọng của Người vào chúng ta.
Hiểu thấu những lời Người dạy để làm tất cả những gì có thể làm, để thực hành đầy đủ và tốt nhất những việc làm cụ thể, thiết thực, noi theo, làm theo tấm gương Tư tưởng - Đạo đức và Phong cách của Người trong cuộc sống hôm nay - Đó là sự đồng tâm nhất trí của chúng ta, tạo nên sự đồng thuận để đồng hành trong chặng đường tiếp tục đổi mới, tiếp tục phát triển, vì một Thanh Hóa giàu mạnh, cũng vì một Việt Nam phồn vinh, hiện đại, làm cho nền Độc lập của Tổ quốc ta vững bền, Tự do của dân tộc Việt Nam ta ngày càng phát triển và Hạnh phúc của mỗi người dân Việt Nam chúng ta ngày càng trọn vẹn để thỏa lòng mong ước của Bác Hồ.
Với niềm xúc động và suy tư ấy, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại lời dạy của Bác, 65 năm về trước, để thấy cho hết những giá trị lắng sâu, uẩn tàng, lấp lánh qua lời văn, câu chữ của Người, ở đó tỏa sáng một niềm tin, chan chứa một tấm lòng thấm đẫm tình người, lại có cả những gợi ý thiết thực biết bao về cách sống, cách làm, sao cho con người tốt hơn, cuộc sống tốt hơn mà Bác truyền dẫn tới chúng ta. Lại cũng sâu xa và mới mẻ vô cùng, từ những dòng chữ, lời văn của Người ta thấy cả một đường hướng tư duy hiện đại, một chương trình hành động cách tân, đổi mới, đó là sự hội tụ kết tinh tư tưởng sáng tạo, khai mở những động lực thúc đẩy phát triển. Cũng ở đây, Người chỉ dẫn cho mỗi chúng ta phương pháp khoa học mà thiết thực, phong cách Thân dân và Dân chủ vừa truyền thống vừa hiện đại. Sự thống nhất làm một giữa Tư tưởng với Phương pháp và Phong cách Hồ Chí Minh toát lên qua những văn phẩm ngắn gọn, trong sáng, giản dị, hàm xúc và cô đọng của Người cũng là một kiểu mẫu bậc thầy của văn hóa Hồ Chí Minh, một biểu tượng kiệt xuất về văn hóa. Đó là văn hóa làm người và ở đời, thôi thúc mọi thế hệ người Việt Nam noi theo, làm theo.
Đối với đồng bào và cán bộ Thanh Hóa, Người không chỉ nói và viết một lần mà nhiều lần, kể cả trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước ác liệt, lúc Người đã tuổi cao sức yếu, Người vẫn dõi theo từng bước tiến của phong trào thi đua sản xuất và chiến đấu của đồng bào, chiến sỹ tỉnh Thanh. Người cũng không chỉ gửi thư riêng cho Thanh Hóa mà Người còn gửi thư động viên khen ngợi, căn dặn đồng bào, chiến sỹ nhiều địa phương khác trong cả nước. Thư từ chiếm một dung lượng lớn, có một vị trí và sắc thái đặc biệt trong các văn phẩm của Người, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Song những bài nói, bài viết của Người gửi đồng bào chiến sỹ Thanh Hóa trong năm 1947, đặc biệt là ngày về thăm Thanh Hóa lần đầu tiên, 20/02/1947 có giá trị và ý nghĩa nổi bật. Đối với Thanh Hóa, đây là một sự kiện lịch sử có sức hằn sâu trong ký ức của mọi người dân, nó như một kỷ vật thiêng liêng, có sức thúc đẩy và sự lan tỏa sâu rộng. Mỗi đối tượng đều có thể cảm nhận nhiều điều bổ ích, nhiều điều thu hoạch thiết thực qua kinh nghiệm công tác, vốn sống và những sự trải nghiệm của riêng mình.
Có thể nói tới các văn phẩm sau đây mà Người trực tiếp nói với Thanh Hóa. Đó là, "Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa" ngày 20/02/1947 (T5, tr.54 - 56), "Bài nói chuyện với các đại biểu thân sỹ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hóa", ngày 20/02/1947 (T5, tr.57 - 63), "Thư gửi đồng bào thiểu số tỉnh Thanh Hóa", ngày 21/02/1947 (T5, tr.64). Cuối cùng là bài "Thanh Hóa kiểu mẫu", thể hiện tập trung những ý kiến chỉ đạo của Người đối với Thanh Hóa sau khi Người về thăm Thanh Hóa lần đầu tiên (T5, tr.65 - 67). Cả bốn văn kiện này đều quy tụ vào một chủ đề, thể hiện một mong muốn của Người, làm sao xây dựng Thanh Hóa thành một tỉnh kiểu mẫu.
Còn có thể kể đến những văn phẩm khác, thể hiện gián tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về kháng chiến kiến quốc, về giáo dục động viên toàn dân yêu nước, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đẩy mạnh thi đua đưa kháng chiến tới thành công, đưa sự nghiệp kiến quốc tới thắng lợi của đồng bào cả nước, trong đó có đồng bào Thanh Hóa, cán bộ chiến sỹ Thanh Hóa, chính quyền đoàn thể ở Thanh Hóa và ở các vùng miền quan trọng khác.
Đó là các bài viết của Người ở thời điểm Người có chuyến đi công tác đặc biệt ở Thanh Hóa ("Gửi đồng bào thượng du", 02/1947; "Thư gửi các đồng chí Bắc Bộ", 01/3/1947, T5, tr.70 - 75; "Thư gửi các đồng chí Trung bộ", 1947, T5, tr.76 - 79). Ngoài ra, Người còn có thư "Gửi đồng bào toàn quốc", 05/3/1947, thư "Gửi đồng bào hậu phương", T5, tr.80 - 81...
Cũng không thể không nhắc tới hai tác phẩm quan trọng mà Người viết trong bối cảnh năm 1947, khi Người cùng với Đảng và Chính phủ đã trực tiếp điều hành công cuộc kháng chiến ở căn cứ địa Việt Bắc - nơi có thủ đô kháng chiến, trung tâm đầu não hoạt động của chế độ dân chủ cộng hòa trong hoàn cảnh kháng chiến, khi Hà Nội tạm thời ở trong sự chiến đóng của đối phương. Hai tác phẩm đó là "Sửa đổi lối làm việc" và "Đời sống mới".
"Sửa đổi lối làm việc" là tác phẩm đầu tiên Người viết về đổi mới trong điều kiện Đảng cầm quyền; khâu đột phá để sửa đổi, để đổi mới được Người xác định là phương pháp, phương thức công tác, lãnh đạo của Đảng, của các tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền, đoàn thể và cán bộ đảng viên. Ở tác phẩm lý luận đậm nét tổng kết thực tiễn này, Người đã chỉ trích, phê phán những khuyết điểm, lỗi lầm của tổ chức và cán bộ khi mới có chính quyền và nêu rõ cách sửa chữa, cách thay đổi để làm cho bộ máy vững mạnh và trong sạch, cán bộ đảng viên xứng đáng là người đầy tớ, người lãnh đạo của nhân dân.
Tác phẩm này có vị trí, tầm quan trọng và ý nghĩa đặc biệt cho thấy lịch sử tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh, của Đảng ta từ khi Đảng ở vị thế cầm quyền.
Có điều là, đây là những năm tháng mà Đảng tạm thời rút vào hoạt động bí mật, không công khai, để bảo toàn lực lượng cách mạng trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp. Khái niệm "đoàn thể" được nhắc đến trong tác phẩm là nói về Đảng, trong quan hệ với dân chúng, thể hiện rõ một định hướng chính trị rất quan trọng lúc bấy giờ là đặt lợi ích tối cao của dân tộc lên trên hết, tranh thủ rộng rãi và phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Tuy nhiên, trong nội bộ Đảng, Hồ Chí Minh vẫn sử dụng khái niệm "Đảng". Người dành một vị trí quan trọng trong tác phẩm để nói về xây dựng Đảng cách mạng chân chính. Mười hai điều xây dựng Đảng trong tác phẩm này thực sự mang tầm lý luận của một chủ thuyết, một cương lĩnh xây dựng Đảng trong hoàn cảnh kháng chiến. Tác phẩm "Đời sống mới" Người viết với bút danh "Tân Sinh" (sống mới) có thể coi là một tác phẩm đổi mới về văn hóa, dùng sức mạnh văn hóa để xây dựng nền tảng cho sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.
Cần phải đặt những lời dạy của Người, mong muốn Thanh Hóa trở thành một tỉnh kiểu mẫu trong hệ thống các tác phẩm nói và viết nêu trên để thấy rõ chủ kiến và hành động của Người ở một thời kỳ lịch sử đặc biệt, thấy rõ giá trị và ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là tư tưởng của đổi mới, của phát triển. Nó vượt khỏi khuôn khổ, phạm vi của Thanh Hóa để mang tầm cả nước, trở thành đường lối, chủ trương, chính sách ở tầm chiến lược, thấm nhuần sâu sắc quan điểm thực tiễn, quan điểm phát triển của Người.
Trước hết, Người đặt vấn đề xây dựng Thanh Hóa kiểu mẫu như thế nào, bao gồm những nội dung gì?
Đó là xây dựng Thanh Hóa về mặt kinh tế, cụ thể là thực hiện kế hoạch tăng gia sản xuất đồng thời với phát triển văn hóa.
Cả kinh tế lẫn văn hóa đều hướng vào mục đích phục vụ cuộc sống của người dân, phục vụ công cuộc kháng chiến kiến quốc, do đó phát triển kinh tế, phát triển văn hóa cũng đồng thời là thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển sức dân, bao gồm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần.
Hai ý tưởng tổng quát trong văn kiện này là xác định mục đích và chỉ dẫn cách làm, có ý nghĩa phương pháp, gắn chặt nội dung với phương pháp, chỉ rõ sự phối hợp giữa nhân dân địa phương với chính phủ toàn quốc, chú trọng sự biến đổi, sự phát triển, cách tổ chức bộ máy, cách huy động lực lượng. Tất cả xoay quanh chữ "Dân" và mọi phong trào hoạt động đều vì dân. Chỉ có dựa vào dân và nhất quán với mục đích vì dân thì mọi phong trào mới tỏ rõ sức sống và mới duy trì được lâu bền, do có dân tham gia, được dân ủng hộ. Đây là bí quyết của thành công. Việc xây dựng Thanh Hóa thành một tỉnh kiểu mẫu phải là sự nghiệp của đông đảo nhân dân Thanh Hóa, có giúp sức của chính phủ, được tổ chức thành phong trào, tự giác chứ không tự phát, toàn diện mọi mặt chứ không riêng lẻ một mặt nào, càng không tách rời mặt này với mặt kia.
Nói tóm lại, để Thanh Hóa thành kiểu mẫu phải làm cho Thanh Hóa phát triển, tiến bộ, phải có lực lượng, tức là có đủ các nguồn lực mà mấu chốt là lực lượng con người, dân tham gia rộng rãi, cán bộ dảng viên gương mẫu làm nòng cốt, tổ chức bộ máy phải hợp lý, gọn nhẹ để hành động thực sự có kết quả.
Phương châm ấy, theo Hồ Chí Minh là sự thiết thực, trọng công việc thực tế, lại phải cân nhắc từng bước đi, chú trọng tiết kiệm, không phô trương hình thức, đề cao kết quả thực chất, hiệu quả rõ ràng trong mỗi chương trình hành động.
Về mục đích, Người đặt lên hàng đầu việc lo cái ăn cho dân, nói đầy đủ hơn là cái ăn, chỗ ở, đời sống hàng ngày của mỗi người dân, không chỉ vật chất mà còn cả tinh thần, nên phải lo việc học hành, ai ai cũng phải biết chữ để mở mang hiểu biết, từ đó mà biết đoàn kết, biết yêu nước. Vậy là, quan tâm tới đời sống của dân, Người chú trọng từ kinh tế đến văn hóa, trong hoàn cảnh kháng chiến, hòa quyện kinh tế với văn hóa, ấy là chính trị, một thứ chính trị cần thiết nhất, thực tế nhất lúc bấy giờ. Toàn bộ mục đích của cuộc vận động xây dựng Thanh Hóa kiểu mẫu gói gọn trong 32 chữ với năm câu ngắn, nhấn mạnh nổi bật vào chữ "Người", ở đây là con người, là người nông dân, là tất cả đồng bào tỉnh nhà.
Người xác định : Làm cho người nghèo thì đủ ăn, tức là phải xóa đói, không để ai bị đói. Đây là tiền đề, điều kiện tối cần thiết để phát triển và tiến bộ. Trước hết phải lo cho tồn tại, mưu sinh hàng ngày và do đó phải lấy kinh tế sản xuất làm gốc, phải giải quyết điều cấp thiết, bức xúc cho dân.
Người nhấn mạnh tiếp theo, phải làm cho người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm. Vậy là phải không ngừng phấn đấu để vượt qua ngưỡng nghèo khổ túng thiếu, tiến tới no đủ, sung túc, khá giả, từng bước trở nên giàu có, đã giàu có rồi thì giàu thêm, như thế mới là phát triển, phải thường xuyên nâng cao đời sống vật chất cho dân. Người mong muốn từng người dân, nhân dân, hộ dân, cả làng, cả huyện, cả tỉnh đều được như vậy. Chỉ là cái ăn của dân thôi mà là điều lo lắng, quan tâm, thường trực suốt đời của Người. Sau lễ Tuyên bố độc lập, Người coi trọng việc cứu đói, nhường cơm sẻ áo cho nhau, nêu gương nhịn ăn mười ngày một bữa, góp gạo cứu dân nghèo mà Người thực hiện trước để tất cả cơ quan chính phủ làm theo, lại ra sức tăng gia sản xuất, tấc đất tấc vàng, phát động phong trào chống giặc đói, diệt giặc dốt, coi đó là những việc cấp bách trong chương trình hành động của chính phủ. Có thắng giặc đói, giặc dốt mới có sức thắng giặc ngoại xâm. Hai mươi tư năm sau, khi viết và sửa Di chúc lần cuối, Người vẫn đau đáu một niềm mong ước, xây dựng thành công một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh. Người vẫn căn dặn, công việc đầu tiên là công việc với con người, trù tính miễn thuế nông nghiệp cho bà con nông dân một năm ngay sau khi cách mạng giải phóng miền Nam thắng lợi, làm cho bà con phấn khởi, yên tâm, hăng hái sản xuất. Người hiểu rõ, nông dân là những người gian khổ nhất, hy sinh nhiều nhất, cho nên ở nước ta cũng như ở Thanh Hóa, phải lo trước hết cho nông dân, cho những người nghèo. Hồi ở chiến khu Việt Bắc, trong dịp Đảng ta ra hoạt động công khai (1951), Người cũng chỉ mong xây dựng nền kinh tế phú cường để dân có ăn, có mặc. Nước có giàu thì dân mới mạnh.
Cái mục đích mà Người xác định cho Thanh Hóa cũng là cho cả nước, trước hết là như vậy. Giản dị mà vĩ đại vô cùng. Đó là sự nghiệp lâu dài của phát triển mà 65 năm đã trôi qua, nay vẫn còn là điều bức xúc, bức xúc ngay với mấy triệu đồng bào Thanh Hóa. Từ lời Bác dạy, ta thấy rõ chủ trương của Người về dân sinh, "xóa đói - giảm nghèo - tăng giàu", ngày nay đang trở thành chính sách quốc gia để phát triển. Đây cũng là mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước, của toàn dân trong đổi mới kinh tế hiện nay. Người cũng từng căn dặn các lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể từ Trung ương tới các địa phương trong cả nước, phải thường xuyên chăm lo phát triển sức dân, bồi dưỡng sức dân, lại phải tiết kiệm sức dân, thực hành dân chủ trước hết phải là dân chủ trong kinh tế, lo cho dân có công ăn việc làm, ổn định đời sống, phân phối lợi ích cho công bằng, quản lý phải chặt chẽ, công khai, minh bạch, mọi việc lớn nhỏ phải thiết thực, phải vì dân, dân chỉ biết đến tự do dân chủ khi dân được ăn no mặc ấm. Cho nên phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, có chỗ ở, được học hành, được chữa bệnh, được chăm sóc sức khỏe và tự do đi lại. Sinh thời, trong một Hội nghị của Bộ Chính trị và của Trung ương bàn về công nghiệp hóa, Người đã chỉ rõ, không vì công nghiệp hóa mà để dân phải thắt lưng buộc bụng quá mức, nếu cần thì bớt đi một số nhà máy, xí nghiệp để lo trước hết đời sống hàng ngày cho dân. Sức người, vốn người là quan trọng nhất, dân có no đủ, khỏe mạnh mới có sức mà làm công nghiệp hóa được. Quan niệm ấy của Người chẳng những sâu sắc về tư duy và tư tưởng, trí tuệ mẫn tiệp mà còn thấm thía chất nhân văn, thương dân, vì dân.
Trong mục đích xây dựng Thanh Hóa kiểu mẫu, Bác Hồ không dừng lại ở đời sống vật chất mà còn chú trọng chương trình phát triển văn hóa, đây mới thực sự là kiểu mẫu về văn minh, tiến bộ. Do đó, phải làm cho người nào cũng biết chữ, người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước. Ở đây vừa có cả việc cấp bách vừa có cả việc lâu dài, phải xây dựng, phải giáo dục, rèn luyện toàn dân, góp sức vào sự nghiệp chung. Đoàn kết, yêu nước là một cuộc vận động xã hội về chính trị và văn hóa. Mục đích đó rất to lớn, quan trọng nhưng ai ai cũng có thể làm được, thể hiện được trong những công việc thực tế hàng ngày.
Để tiến tới mục đích ấy phải có cách làm, tức là phương pháp, phương châm thực hiện. Người căn dặn việc này một cách rõ ràng, thiết thực, phải dựa vào dân, phải đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân.
Tất cả đều xoay quanh một chữ dân mà thôi. Khả năng (Tài) ở trong dân, lực lượng từ nhân dân (Sức), chủ thể cũng từ dân (Của dân). Huy động các nguồn lực ấy để hướng vào phục vụ dân, Người nói rõ, phải làm lợi cho dân. Đây cũng lại là mục đích của việc tổ chức hoạt động mà Đảng, chính quyền, đoàn thể phải ghi nhớ. Không làm lợi cho dân thì không sao gây dựng được niềm tin và sự ủng hộ nơi dân chúng. Cái cốt yếu, quan trọng nhất của mọi phương hướng, chủ trương đường lối chính trị thân dân và dân chủ là ở đó. Cái chân chính cách mạng mà Đảng ta, mỗi cán bộ đảng viên chúng ta phấn đấu cũng là ở chữ đó.
Người cũng khéo léo chỉ rõ, địa phương phải nỗ lực, chủ động. Chính phủ quan tâm giúp đỡ nhưng chính phủ không làm thay được, không nên có tâm lý ỷ lại, trông chờ chính phủ, dù chính phủ lúc nào cũng hết lòng quan tâm, giúp đỡ, giúp kế hoạch cổ động. Người nhắc nhở địa phương phải tự thực hành những kế hoạch của địa phương, giúp đồng bào làm giàu dần, gây dựng phong trào tập thể như hợp tác xã. Người lưu ý cán bộ địa phương phải chú trọng phương châm, phương pháp, bước đi sao cho phù hợp, phải từ dễ đến khó, từ việc gấp đến việc hoãn, từ việc tốn ít tiền đến việc tốn nhiều tiền. Nói tóm lại, kế hoạch phải thiết thực, phải làm được. Có như vậy mới không lãng phí sức lực, tiền của, tránh rơi vào thất bại. Phải đề phòng, phải chống bệnh hình thức, phô trương, chỉ thích kế hoạch đẹp mặt, to tát, kể hàng triệu nhưng không thực hiện được. Những chỉ dẫn này rất xác đáng, mà sâu xa vẫn là vì dân, để định hướng kế hoạch, mà điều hành công việc. Vì dân mà phải trọng công việc thực tế, phải tính toán cẩn thận, phải vì dân chứ không vì mình. Toát lên từ tất cả các chỉ dẫn của Người chính là thông điệp ấy.
Đáng quý biết bao phong cách dân chủ của Người, đáng trọng biết bao lý luận của Người, thứ lý luận lấy ngọn nguồn tinh chất từ cuộc sống, từ bản chất nhân dân, từ tấm lòng thương dân mà thành ra lý luận chứ không câu nệ chữ nghĩa sách vở, không từ đầu óc chủ quan mà tưởng tượng ra. Lý luận Hồ Chí Minh rõ ràng mang sức mạnh chỉ dẫn hành động chứ không phô trương, trang sức. Bình dị, giản dị, đó là nơi thể hiện sức mạnh trí tuệ của Người, bắt đúng nhịp sống, mạch sống nhân dân, từ cuộc sống của dân nên sâu sắc, đúng đắn một cách tự nhiên, như lẽ phải thông thường, không cần phải giảng giải cắt nghĩa gì nhiều. Để hành động có kết quả, hiệu quả, vào lúc này, chúng ta rất cần thứ lý luận tinh chất, đích thực ấy.
Đây cũng là giá trị khoa học và ý nghĩa hiện đại có trong những chỉ dẫn, những lời dạy của Người, cần cho Thanh Hóa mà cũng cần cho cả nước, cho Đảng bộ Thanh Hóa và cho toàn Đảng vào lúc này, khi Trung ương đã ra Nghị quyết về xây dựng Đảng, phải giải quyết ngay những việc cấp bách trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, để dân tin, dân yêu, dân phục, dân giúp đỡ, dân ủng hộ và dân bảo vệ.
Sau những chỉ dẫn tổng quát đó, Người cụ thể hóa, bày vẽ công việc cho chúng ta trên hai lĩnh vực quan trọng là tăng gia sản xuất (tức là kinh tế) và văn hóa.
Qua tất cả những việc cụ thể, đọng lại những tư tưởng chỉ đạo sâu sắc sau đây của Người:
- Chính phủ và nhân dân cùng làm. Chính phủ làm một phần và phải có tính kiểu mẫu cho dân. Đồng bào tự làm lấy, chính phủ giúp ý kiến.
- Phân công rõ ràng trách nhiệm. Có huy động nguồn vốn, có bộ máy tổ chức đôn đốc, làm thử để rút kinh nghiệm, thành công sẽ làm thêm.
- Thi đua giúp đỡ lẫn nhau. Vừa sản xuất vừa chú trọng học văn hóa (chữ quốc ngữ), học quân sự, học chính trị. Chú trọng yêu cầu: yêu nước, đoàn kết, kháng chiến.
- Đặc biệt, Người nhấn mạnh văn hóa, mà trước hết là thanh toán nạn mù chữ, ở cả hạ du và thượng du. Đặt rõ chỉ tiêu, trong vòng bốn tháng, số người mù chữ phải giảm 50%. Tìm tòi những biện pháp không cần tốn tiền mà học được, không thiếu gì cách học mà không tốn tiền, phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến. Có một điểm quan trọng, đã vận động văn hóa thì phải huy động được những người trí thức có uy tín, có danh vọng trong dân để làm hạt nhân thúc đẩy phong trào. Phải phối hợp liên lạc giữa địa phương với Trung ương, cả trong kinh tế lẫn trong văn hóa, luôn luôn chú trọng kinh tế để thúc đẩy văn hóa, rồi đem văn hóa thúc đẩy kinh tế, đem văn hóa soi đường cho quốc dân đi như Người đã chỉ dẫn.
Làm được như vậy, Thanh Hóa sẽ trở thành tỉnh kiểu mẫu.
Để mau chóng trở thành tỉnh kiểu mẫu, điều quan trọng mà Bác Hồ đã chỉ ra là phải có cán bộ và đội ngũ cán bộ tốt, giỏi, tận tâm tận lực phục vụ dân, lại phải xây dựng tổ chức mạnh, trước hết là các tổ chức Đảng. Có như vậy mới gây dựng được phong trào bền vững và luôn liên hệ, gắn bó mật thiết với nhân dân.
Người ví, cán bộ là dây chuyền của bộ máy. Cán bộ là người đem chính sách của chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân.
Người cũng từng nói, cán bộ là cái gốc của công việc. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là công việc gốc của Đảng. Người chỉ rõ, cán bộ phải có đức tính thế nào? Theo Người, cần phải thể hiện rõ đức tính của cán bộ trên năm điểm sau đây:
Thứ nhất, mình đối với mình, phải tìm học hỏi, cầu tiến bộ, phải học lấy điều hay của người ta, phải siêng năng tiết kiệm, phải tránh tự mãn, tự túc, kiêu ngạo.
Thứ hai, đối với đồng chí mình, phải thân ái, phải học cái hay, sửa cái dở, không che đậy điều dở, không tranh dành ảnh hưởng của nhau, không ghen ghét đố kỵ, không hiếu danh, hiếu vị.
Thứ ba, đối với công việc, phải nghĩ cho kỹ, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, cẩn thận không phải là do dự, nhút nhát.
Thứ tư, đối với nhân dân, Người nhấn mạnh, đoàn thể làm việc cho dân. Đoàn thể mạnh hay yếu là ở dân. Phải hiểu nguyện vọng của dân, hiểu sự cực khổ của dân, hiểu tâm lý dân, học sáng kiến của dân. Giải thích cho dân, tôn kính dân, làm cho dân tin, làm gương cho dân. Muốn cho dân phục phải được dân tin, muốn cho dân tin phải thanh khiết, tức là có đạo đức trong sạch.
Thứ năm, đối với Đoàn thể, đoàn thể vì dân vì nước. Đã vào đoàn thể phải bỏ tự do cá nhân. Phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của đoàn thể. Phải tuyệt đối trung thành. Phải hết sức làm việc và biết hy sinh vì đoàn thể khi nguy hiểm. Lại phải giữ danh giá của đoàn thể, giữ danh giá của mình. Đoàn thể mạnh thì cái tốt phát triển, cái dở ngày càng bớt đi.
Một điều tốt phải đưa ra tất cả mọi người cùng học. Một điều xấu phải đưa ra tất cả mọi người cùng biết mà tránh.
Ta thấy gì qua năm yêu cầu về đức tính cán bộ? Đó là rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Phải rèn đạo đức, rèn ý thức tổ chức kỷ luật, đặt sự nghiệp cách mạng lên trên. Hết lòng vì dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, xung phong gương mẫu, thực hành đạo làm người của người cách mạng. Năm điều ấy làm cho cán bộ tốt, tổ chức mạnh, dân tin yêu, nhờ đó mà sự nghiệp thành công, kháng chiến nhất định thắng lợi. Năm điều ấy, bây giờ cần áp dụng, đẩy mạnh thực hành, đưa Thanh hóa đổi mới mạnh mẽ, tiến bộ nhanh chóng, phát triển bền vững để trở thành kiểu mẫu trong thời kỳ hiện đại.
Nói chuyện với các đại biểu thân sỹ trí thức phú hào tỉnh Thanh, Người cũng nêu nhiều ý kiến rất sâu sắc, tập trung vào mấy điều quan trọng:
- Nêu rõ kháng chiến rất cực khổ, rất gay go, rất khó khăn nhưng sẽ thắng lợi.
- Kiến thiết tỉnh Thanh thành một tỉnh kiểu mẫu. Phải mô phạm không chỉ một mặt mà nhiều mặt. Kháng chiến thắng lợi mọi mặt. Kiến thiết khắp mọi mặt, tức là toàn diện.
- Thanh Hóa có đầy đủ điều kiện để trở thành tỉnh kiểu mẫu, vì người đông, đất rộng, của nhiều.
- Chỉ rõ hạn chế của Thanh Hóa, đó là thiếu sự điều khiển sắp đặt, đây là điều quan trọng mà Người muốn nói với lãnh đạo tỉnh.
- Người gợi ý việc phải làm ngay, phải xóa mù chữ cho dân, phải chú trọng mở mang giáo dục, chú trọng giáo dục toàn diện, cả đạo đức công dân và phổ thông chính trị, phải đào tạo lớp trẻ, học và hành đi đôi với nhau, phải chú trọng cả quân sự cho công cuộc kháng chiến, chú trọng chính trị, hành chính cho công cuộc kiến thiết xã hội ở địa phương. Người nói tới sức mạnh của đoàn kết, của dân chủ, dân phải giúp chính phủ sửa chữa khuyết điểm để thực sự là chính phủ của dân, vì dân, phát huy quyền và trách nhiệm của dân. Người cũng giải thích cho đồng bào rõ, công việc xây dựng chế độ mới cần có thời gian, cần có sự cảm thông, nguyên lượng của dân đối với chính phủ.
Người căn dặn đồng bào Thanh Hóa tăng gia sản xuất làm cho dân khỏi đói, khỏi rét, góp sức vào kháng chiến, giúp đỡ đồng bào tản cư, nêu ra nhiều ví dụ cụ thể, xác thực, tin cậy ở đồng bào Thanh Hóa, làm cho Thanh Hóa thành tỉnh kiểu mẫu, muốn cho tất cả các làng xã , huyện, tỉnh, từng nhà, từng người đều là kiểu mẫu, xây dựng đất nước văn minh, tiến bộ, xứng đáng với độc lập tự do.
- Đáng chú ý trong những lời dạy của Người với Thanh Hóa là Người nêu rõ một quan niệm rất khoa học và nhân văn về chính trị. Chính trị cốt ở Đoàn kết và Thanh khiết, từ to đến nhỏ. Đây là một nền chính trị vì dân nên phải dựa vào dân và phải đề cao đạo đức. Người đặc biệt phê phán chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra thói hẹp hòi, cục bộ, bè phái, khoe khoang, phô trương, hình thức, đầu óc vụ lợi, vị kỷ, tham danh vọng, tiền tài, xa dân, không làm lợi cho dân mà làm tổn hại tới dân. Không tẩy sạch những thói hư tật xấu ấy thì sẽ hỏng người, hỏng việc, làm dân oán dân ghét, cách mạng sẽ gặp khó khăn và thất bại.
Người cũng đặc biệt qua tâm săn sóc đồng bào thượng du, miền núi, nhờ cậy các vị lang đạo ở đó chăm sóc đồng bào. Tấm lòng của Người đã cảm hóa và làm xúc động muôn người, thúc đẩy toàn dân đoàn kết, góp công, góp của, góp sức vào công cuộc kháng chiến kiến quốc mau chóng thắng lợi...
Qua các bài nói, bài viết của Người dành cho Thanh Hóa ta thấy không chỉ mong muốn của Người, sự tin cậy của Người đối với đồng bào chiến sỹ Thanh hóa, quyết tâm xây dựng Thanh Hóa thành một tỉnh kiểu mẫu mà còn là chủ trương, đường lối chiến lược, kháng chiến kiến quốc tới thành công, có ý nghĩa đối với cả nước trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ.
Giá trị, ý nghĩa của những bài viết, bài nói đó còn có tác dụng thúc đẩy, cổ vũ Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa cũng như cả nước trong công cuộc đổi mới hiện nay.
2. Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa học tập và làm theo lời Bác, phấn dấu xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh kiểu mẫu trong sự nghiệp đổi mới hiện nay
65 năm trước, khi Bác về thăm Thanh Hóa, tỉnh nhà mới có một triệu dân, lại đang kháng chiến, còn nhiều gian nan vất vả, dân còn nghèo, tỷ lệ thất học mù chữ còn cao. Vậy mà Bác Hồ vẫn tin vào tiềm năng dồi dào của Đất và Người Thanh Hóa vốn có tiếng là văn vật và nhất định sẽ thành kiểu mẫu cho cả vùng, cả nước noi theo. Bác còn căn dặn, có quyết tâm cao, đồng tâm nhất trí thì mọi việc sẽ thành công. Ngày nay, Thanh Hóa đang chuyển mình mạnh mẽ, dân đông tới bốn triệu người, nhiều tiềm năng đang trỗi dậy, triển vọng thật tốt đẹp, bởi Thế đã mạnh, Lực đã dồi dào hơn trước rất nhiều, lại có sự cổ vũ, tin tưởng của cả nước, nhất định Thanh Hóa sẽ giàu có, văn minh, hiện đại, sẽ thành kiểu mẫu như Bác Hồ hằng mong, hằng tin. Đất nước đã đổi mới 1/4 thế kỷ nay, trong đó có công sức đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa anh hùng.
Toàn Đảng toàn dân ta đang ra sức thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và các Nghị quyết quan trọng của Trung ương sau Đại hội, nhất là tập trung phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước, quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và củng cố vững chắc niềm tin của dân đối với Đảng, quyết tâm thực hiện bằng được mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Để xứng đáng với Bác Hồ, quyết tâm thực hiện bằng được lời dạy của Bác đối với Thanh Hóa trong tình hình mới, trước yêu cầu mới, phải hiện đại hóa để phát triển bền vững, Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa chúng ta cần phải có chương trình hành động thể hiện rõ tinh thần đổi mới, phương pháp sáng tạo, nỗ lực vượt qua những điểm nghẽn, tập trung sức mạnh của toàn Đảng toàn dân vào những đột phá để Thanh Hóa tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, nhất định thành tỉnh kiểu mẫu về mọi mặt. Muốn vậy, xuất phát từ tình hình thực tế của Thanh Hóa, cần đổi mới tư duy quyết liệt hơn nữa như Đảng ta nhấn mạnh, phải nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật để tìm đúng giải pháp cho một sức bật mới của Thanh Hóa. Theo đúng chỉ dẫn của Bác, phải làm cho Đất sinh sôi của cải, Người dồi dào sáng kiến sáng tạo, huy động trí lực, tài lực, quy tụ lòng dân, sức dân vào cùng một hướng, làm cho Thanh Hóa phát triển đều khắp từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, làm cho kinh tế phồn vinh, chính trị ổn định tích cực, xã hội công bằng, lành mạnh, cộng đồng các dân tộc đoàn kết, làm cho đất xứ Thanh, người xứ Thanh luôn luôn tươi đẹp, giỏi giang, thực sự là vùng đất văn hóa, văn hiến đáng tự hào của cả vùng, cả nước.
Thanh Hóa vốn giàu tiềm năng nhưng lại chưa phát triển tương xứng. Con người Thanh Hóa không thiếu trí thông minh, tài sáng tạo nhưng chưa phát huy hết khả năng quý báu đó.
Cái gì là điểm nghẽn trong phát triển của Thanh Hóa, mắt xích nào là quan trọng nhất cần đột phá đối với Thanh Hóa, Đảng, chính quyền, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân Thanh Hóa phải làm gì và làm như thế nào để Thanh Hóa phát triển nhanh và bền vững? Trả lời những câu hỏi hệ trọng đó và giải bài toán phát triển đó, chỉ có thể tìm ở Thanh Hóa, thực hiện ở Thanh Hóa trong sự liên kết, hợp tác với toàn vùng và cả nước.
Thực tiễn và kinh nghiệm của Thanh Hóa cũng như cả nước đã cho thấy ba điều quan trọng sau đây:
- Tổ chức Đảng và cán bộ đảng viên phải tiên phong gương mẫu để thúc đẩy phong trào, quy tụ sức dân, lòng dân.
- Phát huy sức mạnh dân chủ, đoàn kết, đồng thuận, tạo ra hợp lực, động lực của phát triển.
- Tập trung mọi nguồn lực, thực hiện những chương trình, kế hoạch để phát triển kinh tế, văn hóa, chăm lo cuộc sống của dân, từ dân sinh đến dân trí, từ dân quyền đến dân chủ.
Ta ghi nhớ và thực hành lời Bác, phải làm cho dân không đói, không rét, không thất học, mù chữ, phải xóa đói, giảm nghèo, tăng giàu. Đó là phát triển, là xây dựng chủ nghĩa xã hội theo quan điểm phát triển trên chính mảnh đất Thanh Hóa, bằng sức mạnh của người Thanh Hóa, vì cuộc sống hạnh phúc và quyền làm chủ của đồng bào Thanh Hóa. Chúng ta thực hiện nghiêm chỉnh năm đức tính của cán bộ đảng viên mà Bác đã chỉ dẫn, quyết tâm xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh, thực sự là niềm tin và tự hào của nhân dân Thanh Hóa. Chúng ta ra sức phát huy Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa, huy động nhân tài trí thức tỉnh Thanh vào sự nghiệp chấn hưng tỉnh Thanh trong năm, mười năm tới, làm cho Thanh Hóa thành kiểu mẫu, góp phần xứng đáng vào xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, hiện đại./.





















