Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Giảng viên khoa Dân vận
Qúa trình dạy học là một quá trình giao tiếp sư phạm trực tiếp giữa người dạy và người học, đòi hỏi người dạy phải sử dụng thành thục, có hiệu quả các phương tiện giao tiếp. Vì vậy, việc sử dụng tốt các phương tiện giao tiếp là một trong những yếu tố quyết định trực tiếp sự thành công và hiệu quả trong quá trình dạy học.
Phương tiện giao tiếp được sử dụng trong quá trình giảng dạy là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, trong đó phương tiên ngôn ngữ là phổ biến. Vậy việc sử dụng ngôn ngữ nói, viết trong quá trình dạy học của giảng viên ở trường Chính trị đòi hỏi những yêu cầu gì?
Thực tế trong quá trình dạy học cho thấy, giọng nói có vai trò vô cùng quan trọng, vì nó thể hiện trạng thái cảm xúc của giảng viên, như, âm lượng, tốc độ, sự lên xuống trầm bổng, cách chuyển đổi nội dung ... giúp làm tăng sự chú ý và tình cảm, lĩnh hội tri thức của học viên. Do đó, ngôn ngữ nói của giảng viên phải rõ ràng, mạch lạc, đảm bảo chuẩn tiếng phổ thông, không sai lỗi chính tả, không đa nghĩa, dễ hiểu, dễ nghe, phù hợp với mọi đối tượng. Âm lượng nói vừa đủ nghe, không to quá cũng không nhỏ quá, vì nếu to quá sẽ làm cho học viên dễ mệt mỏi và người dạy nhanh mất giọng nhưng nếu giảng viên nói nhỏ quá học viên sẽ không thể nghe được và mất tập trung vào bài giảng, cần phải biết chọn vị trí nhấn giọng trong câu vì nếu giọng nói của giảng viên đều đều sẽ làm cho học viên mệt mỏi, buồn ngủ; hãy thay đổi âm lượng nói, lúc to, lúc nhỏ để tránh giọng đều đều. Tốc độ nói cần vừa phải, không nhanh, không chậm, nếu nhanh quá sẽ làm cho học viên tư duy không kịp, không hiểu được bài nhưng nếu chậm quá bài giảng sẽ rời rạc, thiếu cảm xúc; do đó giọng nói của giảng viên vẫn phải nhanh vừa đủ để tạo sự tự tin, năng động; không nên dừng câu giữa chừng mà nên tận dụng dừng câu ở dấu chấm, dấu phẩy, nên hạ thấp giọng ở cuối câu; hãy ngừng đúng lúc: trước hay sau một từ chủ yếu, ngăn cách các mục khác nhau, chỉ rõ sự chuyển biến nội dung của bài giảng; tránh lạm dụng những từ lấp lỗ trống như "à", "ờ", tức là những từ không có ý nghĩa gì cả. Quan trọng là ngôn ngữ nói của giảng viên phải thể hiện sự say mê, nhiệt tình, tâm huyết và thái độ tôn trọng của giảng viên đối với học viên.
Đồng thời, quá trình lên lớp giảng viên còn phải sử dụng ngôn ngữ viết. Do đó, ngôn ngữ viết của giảng viên phải rõ ràng, lô gíc, khoa học, thể hiện tính thẩm mỹ trong việc trình bày bảng; đề bài nên viết hoa, gạch chân; chỉ viết tắt những cụm từ đã được quy định và xin phép khi muốn viết tắt; bố cục bài giảng có thể quy định: I,1.a,1.b,... hoặc 1,1.1,1.2,... Khi xóa bảng giảng viên nên giữ lại những đề mục chính để giúp cho người học dễ theo dõi.
Đặc biệt, quá trình dạy học ở trường Chính trị tỉnh, do nội dung giảng dạy là các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, ... của Đảng và Nhà nước. Nên việc sử dụng ngôn ngữ của giảng viên đòi hỏi càng phải chuẩn tiếng phổ thông, nói có trọng tâm, điểm nhấn, lên trầm xuống bổng cho người học dễ tiếp thu và vận dụng; văn phong rõ ràng, rành mạch, dễ hiểu, không đa nghĩa ...
Bên cạnh vai trò của phương tiện ngôn ngữ trong dạy học như đã nêu, quá trình giảng dạy trên lớp của người giảng viên cần phải kết hợp với việc sử dụng hợp lí phương tiện phi ngôn ngữ. Vậy, phương tiện phi ngôn ngữ giữ vai trò như thế nào trong quá trình lên lớp của giảng viên?
Trong quá trình lên lớp của giảng viên phương tiện phi ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng, giúp giảng viên biểu lộ cảm xúc, tình cảm, tâm trạng, thái độ đối với học viên hoặc ngược lại. Phương tiện phi ngôn ngữ bao gồm nhiều thành tố như: Tư thế đi đứng, nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, hành vi, điệu bộ, cách đi đứng, trang phục ... Điều đó đặt ra, để sử dụng hiệu quả phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong giảng dạy, người giảng viên cần lưu ý:
Tư thế, cách đi đứng của giảng viên khi lên lớp: Tư thế tạo nên ấn tượng đầu tiên, có ảnh hưởng quan trọng, nó bộc lộ sự tin tưởng, tính cởi mở và thái độ của một người. Do đó, tư thế đi của giảng viên khi bước vào lớp là phải đi không nhanh quá, không chậm quá, nhẹ nhàng, đầu ngẩng cao, ngực hơi ưỡn ra phía trước; khi giảng viên đứng chào học viên phải đứng thẳng người, ngẩng cao đầu, vai không nhô ra phía trước, ngực thẳng, hai bàn tay buông xuôi tự nhiên, lòng bàn tay hướng vào trong; khi viết bảng giảng viên nên nghiêng người so với bảng tạo góc 60 độ, tay nắm hờ, buông thẳng; không nên quay lưng lại với học viên, bỏ tay vào túi quần hoặc gập tay ra sau lưng bởi nó thể hiện thái độ không tôn trọng học viên. Khi giảng viên đi lại trong lớp học cũng cần phải nhẹ nhàng, đi lại vừa phải không nhiều quá cũng không ít quá vì nhiều quá sẽ làm mất sự tập trung chú ý của học viên nhưng nếu ít quá sẽ không tạo nên sự bao quát lớp học và không tạo được sự gần gũi với học viên; giầy dép của giảng viên không được tạo nên tiếng "lộp, cộp" vì sẽ làm lớp học ồn, mất tính thẩm mỹ và tạo nên sự khó chịu cho học viên.
Cử chỉ của giảng viên khi lên lớp, mọi người đều dùng cử chỉ một cách vô thức để hậu thuẫn cho những điều mình đang nói, đang diễn đạt, như dùng bàn tay để miêu tả một vật hay một thao tác, để đếm hay liệt kê. Cử chỉ không chỉ nhấn mạnh những điều giảng viên nói mà còn bộc lộ thái độ của giảng viên đối với học viên. Giảng viên khi lên lớp không nên hoa chân múa tay nhiều nhưng cũng không nên ngồi tại bục khoanh tay trước ngực. Khi giảng viên mời học viên đứng lên trả lời câu hỏi nên giơ bàn tay ra mời chứ không nên chỉ bằng một ngón tay. Nếu trong giờ học. học viên đang nói chuyện hoặc làm việc riêng; giảng viên có thể nghiêm nét mặt, nhìn xoáy vào học viên hoặc đặt câu hỏi hoặc nhắc nhở nhưng tuyệt đối giảng viên không được ném phấn hoặc giẻ lau bảng vào học viên, nhất là với học viên của trường Chính trị.
Với vẻ mặt và ánh mắt, người ta có thể thiết lập các quan hệ như: mỉm cười, gật đầu, nhướng mày hay nhăn mặt, tức giận, hoài nghi.... Do đó, giảng viên khi lên lớp có thể điều tiết ánh mắt, nét mặt theo nội dung, phương pháp của bài giảng, không khí của lớp học; nét mặt, ánh mắt của giảng viên phải được thể hiện ngay từ khi bước vào lớp học, tức là giảng viên phải thể hiện được sự vui vẻ, tự nhiên, thân thiện. Giảng viên khi giảng bài, đặt câu hỏi và lắng nghe học viên trả lời thì ánh mắt, nét mặt của giảng viên phải thể hiện được sự gần gũi, khích lệ, tôn trọng và tạo sự chăm chú của học viên, không nên nhìn lâu quá vì sẽ làm học viên mất tự nhiên, khó chịu. Cho nên, trong khi giảng bài, giảng viên nên đưa mắt nhìn khắp lớp và dừng lại ở những học viên đang nói chuyện hoặc làm việc riêng... để thể hiện khả năng bao quát lớp học.
Nụ cười là một phương tiện giao tiếp quan trọng chứa đựng nhiều nội dung phong phú. Nụ cười không chỉ biểu hiện thái độ, tình cảm của con người mà còn cả những khía cạnh nhất định của tính cách con người. Nụ cười chẳng những đem lại cho người khác cảm giác thoải mái, tự tin, mà còn làm cho học viên cảm thấy đây là tín hiệu của sự tốt lành, của lòng chân thành. Do đó, trong quá trình lên lớp giảng viên phải thể hiện một gương mặt tươi tắn với một nụ cười thân thiện, tự nhiên, chân thành, phù hợp với hoàn cảnh.
Giảng dạy ở trường chính trị có tính đặc thù là đào tạo cán bộ, ở đây mối quan hệ giữa người dạy và người học không phải thuần túy là quan hệ thầy - học viên; cũng không phải là quan hệ tiền đồng nghiệp, mà là mối hệ có tính chất, tình cảm "đồng chí"; điều đó càng đòi hỏi tất cả mọi cử chỉ, hành vi, điệu bộ, ... của giảng viên phải chuẩn, thể hiện thái độ tôn trọng đối với "đồng chí" của mình.
Đồng thời, trang phục, đầu tóc của giảng viên phải lịch sự, gọn gàng, nghiêm túc, kín đáo, giản dị, chỉnh tề, ... phù hợp với kiểu dáng của mình cả về mầu sắc, hoa văn. Đặc biệt, đối với giảng viên trường Chính trị, cần phải lưu ý là trang phục không được luộm thuộm, xuềnh xoàng, cẩu thả và luôn phải chú ý đến tính trang nghiêm ... Có thể tùy theo mùa, tùy theo sở thích cá nhân, đặc điểm của địa phương, dân tộc mà giảng viên lựa chọn trang phục cho phù hợp.
Do vậy, phương tiện giao tiếp sư phạm trong quá trình dạy học giữ vai trò hết sức quan trọng và là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của bài giảng. Cho nên, đòi hỏi mỗi giảng viên trường Chính trị nhất là những giảng viên còn trẻ về tuổi nghề cần phải thường xuyên rèn luyện các kỹ năng giao tiếp (nói chung) và cách sử dụng các phương tiện giao tiếp (nói riêng) một cách có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng trong quá trình dạy học.





















