Hôm nay:
1350
Hôm qua:
1590
Tuần này:
2940
Tháng này:
43024
Tất cả:
2171027

Ý nghĩa và giá trị lịch sử cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Đăng lúc: 09:15:54 06/01/2020 (GMT+7)

 NCS. Dương Thị Hằng; ThS. Nguyễn Thị Phương 
Khoa Lý luận Cơ sở
 
Trải qua những năm tháng đấu tranh giành và giữ nền độc lập dân tộc, Việt Nam đang bước vào con đường đổi mới và phát triển mạnh mẽ. Một năm mới lại đến, với sự khởi đầu là sự kiện chính trị lớn của đất nước – kỷ niệm ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên (ngày 6 tháng 1 năm 1946), một sự kiện khẳng định sự lựa chọn đúng đắn và nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; phấn đấu cho mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.
Cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 6/1/1946 là một sự kiện lịch sử trọng đại, mở đầu cho việc hiện thực hóa một nước Việt Nam độc lập và sự đoàn kết, đồng lòng xây dựng chế độ dân chủ mới của toàn dân tộc ta.
1. Đánh dấu sự hợp Hiến của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Sau khi đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 3/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị 6 nhiệm vụ cấp bách cần phải thực hiện ngay, trong đó có nhiệm vụ phải tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu để bầu ra Quốc hội. Người chỉ rõ: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giầu, nghèo, tôn giáo, dòng giống...” (1).
Để chuẩn bị cho Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 14/SL về việc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội vào ngày 8/9/1945 và ký Sắc lệnh số 51/SL quy định thể lệ Tổng tuyển cử vào ngày 17/10/1945. Các Sắc lệnh này đã khẳng định yêu cầu bức thiết của Tổng tuyển cử là để “dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một là phiếu cũng có sức lực như một viên đạn”(2). Đồng thời khẳng định nước ta có đủ cơ sở pháp lý, điều kiện khách quan và chủ quan để tiến hành cuộc Tổng tuyển cử theo những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ nhất, đó là: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Trên cơ sở giải quyết những mâu thuẫn, xung đột giai cấp, đảng phái trong điều kiện hòa bình, cuộc Tổng tuyển cử đã được tiến hành và thành công tốt đẹp: Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời; Quốc hội đã cử ra Chính phủ chính thức, ấn định cho Việt Nam một Hiến pháp dân chủ. Đây là một mốc son đánh dấu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam, không những là sự hợp pháp hóa, chính đáng hóa quyền lực của Nhà nước, mà việc ban hành Hiến pháp, thành lập Chính phủ chính thức là một trong những nhiệm vụ hàng đầu để củng cố và tăng cường chính quyền của nhân dân. Cuộc Tổng tuyển cử không chỉ là một cuộc vận động chính trị thông thường, mà thực chất là một cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp và dân tộc vô cùng gay go, phức tạp và không kém phần quyết liệt nhằm hợp pháp hóa nước Việt Nam độc lập. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội, đối ngoại; là căn cứ để khẳng định Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có tính chất hợp pháp, dân chủ - Nhà nước của dân, do dân và vì dân, được quốc dân giao phó trọng trách điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ của Việt Nam trên trường quốc tế.
2. Thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc
Không chỉ hợp pháp hóa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước ta còn thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc, tất cả vì mục tiêu độc lập dân tộc với những giải pháp “dĩ bất biến, ứng vạn biến” đầy nghệ thuật, không phải sử dụng bạo lực trong điều kiện đất nước “thù trong giặc ngoài”.
Trong không khí vô cùng phấn khởi, với tinh thần dân tộc dâng cao chưa từng có sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân cả nước đã đón nhận và chuẩn bị Tổng tuyển cử như ngày hội lớn của mình. Tại các địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, việc tuyên truyền vận động Tổng tuyển cử đã diễn ra bằng nhiều hình thức phong phú thể hiện những nét văn hoá đặc sắc, đa dạng của mỗi dân tộc. Hàng nghìn đồng bào Kinh, Mường, Thái, Tày, Nùng, Dao... ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Cào Bằng, Lạng Sơn... đã kéo về tỉnh lỵ, châu lỵ và trụ sở chính quyền mít-tinh hoan nghênh tổng tuyển cử, ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, đả đảo thực dân Pháp xâm lược. Những cuộc mít -tinh này thường biến thành những cuộc tuần hành kéo về các thôn xóm cổ động cho Tổng tuyển cử. Các bản làng xa xôi hẻo lánh như thức dậy với những tiếng cồng chiêng rộn ràng đón chào ngày hội lớn của dân tộc. Việt Kiều ở xa tổ quốc như ở Pháp, Thái Lan, Lào... cũng mít-tinh, hội họp, gửi thư điện hướng về quê hương theo dõi, hoan nghênh Tổng tuyển cử và bày tỏ sự tin tưởng tuyệt đối vào Chủ tịch Hồ Chí Minh, hứa kiên quyết phụng sự Tổ quốc.
Ngày 6/1/1946, nhân dân Việt Nam từ Bắc đến Nam, trên khắp mọi miền của Tổ quốc nô nức tham gia bầu cử, bất chấp sự phá hoại điên cuồng của các thế lực xâm lược và chống đối, góp phần mang đến sự thành công cho cuộc Tổng tuyển cử. Niềm tin, hy vọng của người dân đã theo từng tiếng trống, hòa cùng lời ca, gửi gắm trong từng lá phiếu của họ. Đó thực sự là cuộc Tổng tuyển cử của lòng dân, thể hiện truyền thống đoàn kết của dân tộc, thể hiện niềm tin tuyệt đối của nhân dân vào tương lai tươi sáng của dân tộc, vào tiền đồ của chính quyền cách mạng. Thắng lợi của Tổng tuyển cử, nhưChủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, là “kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già trẻ, lớn bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc ”(3).
3. Thể hiện tính chất dân chủ của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tinh thần dân chủ được thể hiện trong Tổng tuyển cử đầu tiên khi Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng và thực thi nhiều biện pháp để tập hợp, sử dụng nhân sĩ, trí thức, nhân tài phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Người đã cùng với Tổng bộ Việt Minh mời tất cả những người ngoài Mặt trận Việt Minh cùng đứng chung danh sách ứng cử; nhiều nhân sĩ, trí thức được mời tham gia bộ máy hành chính và cơ quan chuyên môn ở các cấp, nhất là ở Trung ương. Điều này chứng tỏ, Chính phủ và Việt Minh luôn tôn trọng quyền tự do dân chủ của nhân dân, tôn trọng người có tài, đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, thiện tâm, thiện chí vì quyền lợi tối cao của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Vì lẽ đó, cho nên Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết”(4).
Trước sự vu cáo, nói xấu, kêu gọi tẩy chay Tổng tuyển cử của các thế lực thù địch, cuộc Tổng tuyển cử vẫn diễn ra và thành công tốt đẹp, điều này chứng minh rằng: Dù đại đa số dân ta lúc bấy giờ chưa biết đọc biết viết, nhưng “căn cứ vào phong trào đánh Pháp đuổi Nhật vĩ đại ở khắp nước vừa qua, ta thấy dân chúng đã có ý thức chính trị một cách khá dồi dào. Và hễ có ý thức chính trị là có đủ những điều kiện cần thiết nhất để phân biệt ai là thù, ai là bạn, ai xứng đáng là đại biểu chân chính của mình. Nói khác đi, dân chúng chưa biết đọc, biết viết, chưa biết bàn luận những chuyện xa xôi, nhưng có một điều mà họ biết chắc chắn, biết rõ ràng hơn ai hết, là quyền lợi của họ... Họ đi với những ai bênh vực, chiến đấu cho quyền lợi của họ, họ chống những ai xâm phạm quyền lợi của họ... chỉ Tổng tuyển cử mới để cho dân chúng có dịp nói hết những ý muốn của họ, và chỉ có chính phủ lập ra bởi tổng tuyển cử mới là đại diện chân chính và trung thành của toàn thể quốc dân. Sau hết, cũng chỉ có Tổng tuyển cử mới có thể cấp cho nước Việt Nam một Hiến pháp mới ấn định rõ ràng quyền lợi của Quốc dân và của Chính phủ và mới phá tan được hết những nghi ngờ ở trong cũng như ở ngoài đối với chính quyền nhân dân”(5).
Trong cuộc Tổng tuyển cử, nhiều người có tài, có đức xung phong ra ứng cử hoặc được quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Danh sách các cử tri và ứng cử viên được hoàn thành và niêm yết công khai. Quần chúng sôi nổi trao đổi, tranh luận, chất vấn nhằm lựa chọn được những người xứng đáng nhất làm đại diện của mình, còn “những người trúng cử sẽ phải ra sức giữ vững nền độc lập của Tổ quốc, ra sức mưu sự hạnh phúc cho đồng bào…”(6). Do đó, ngày Tổng tuyển cử 6/1/1946, đã “là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.”(7)
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 còn trở thành một sự kiện lịch sử trọng đại, mở đầu cho quá trình xây dựng chế độ dân chủ mới; là sự khởi đầu và phát triển của Quốc hội, một thiết chế dân chủ, trụ cột trong Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Quốc hội Việt Nam lần đầu tiên ra đời vừa là thành quả, vừa là yêu cầu bức thiết của cách mạng. Đó là Quốc hội của độc lập dân tộc, của thống nhất đất nước và của đại đoàn kết toàn dân. Quốc hội đã hội tụ các đại biểu của cả ba miền Bắc – Trung – Nam, là ý chí của nhân dân cả nước. Quốc hội đã có đại diện của tất cả thế hệ những người Việt Nam yêu nước đương thời, hội tụ đại biểu của tất cả các ngành, các giới, các giai cấp, tầng lớp xã hội từ công nhân, nông dân, nam giới, nữ giới cho đến những nhà tư sản, công thương gia, những nhân sĩ trí thức và các nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng, có đại diện của các thành phần tôn giáo trên mọi miền đất nước, tất cả các thành phần dân tộc, của tất cả những người không đảng phái và đảng phái chính trị như Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ, những đảng viên Xã hội cùng những người tiến bộ trong các phái chính trị khác...
Có thể thấy, thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời, biểu thị khát vọng dân chủ của nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam độc lập. Hơn 70 năm đã đi qua, nhưng cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 vẫn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân Việt Nam, vì ý nghĩa to lớn và giá trị xuyên suốt lịch sử dân tộc. Đó là một cuộc Tổng tuyển cử để xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân trên cơ sở lập ra cơ quan đại biểu, đại diện quyền lực Nhà nước của nhân dân, từ đó lập ra các cơ quan Nhà nước khác để hình thành bộ máy Nhà nước thống nhất, phân công, phân nhiệm thực thi quyền lực. Tổng tuyển cử thể hiện sự tin tưởng, phát huy vị thế là chủ và làm chủ của nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lôi cuốn nhân dân tham gia công việc nhà nước, kể cả người ứng cử lẫn người đi bầu. Tổng tuyển cử đã thể hiện và bảo đảm thực hiện các nguyên tắc bầu cử tiến bộ, tạo mọi điều kiện để nhân dân thực hiện quyền của mình, tham gia bầu cử đông đủ, thể hiện quyền lợi và nghĩa vụ của công dân trong việc xây dựng chính quyền nhân dân. Đây cũng là những bài học quý giá cho chúng ta vận dụng để xây dựng chính quyền dân chủ, xây dựng khối đoàn kết dân tộc, thực hiện bầu cử Quốc hội hiện nay. Kể từ lần đầu tiên được thành lập đến nay, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng tập trung nhiều công sức, trí tuệ và thời gian để tiếp tục đẩy mạnh mọi mặt công tác; chú trọng và chủ động hơn trong việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, về tổ chức bộ máy nhà nước, về nhân sự, về kinh tế - xã hội, đối ngoại; hoạt động lập pháp ngày càng được quan tâm, quy trình nâng cao chất lượng của các văn bản luật, pháp lệnh nhằm từng bước hoàn thiện, hệ thống pháp luật phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, bảo đảm việc thực hiện quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, góp phần củng cố, xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
 
Tài liệu tham khảo
(1) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 2010, tr 8
(2) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 2010, tr. 145
(3) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 2010, tr 198
(4) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 2010, tr 133
(5)Báo Cứu quốc, ngày 24-11-1945, Tài liệu lưu tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III
(6) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 2010, tr.251
(7) Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 2010, tr. 145
 

Khảo sát ý kiến

Bạn biết đến cổng thông tin nhà trường qua hình thức nào?