KIÊN ĐỊNH - KỶ CƯƠNG - ĐOÀN KẾT - NÊU GƯƠNG - SÁNG TẠO XÂY DỰNG TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH THANH HÓA ĐẠT CHUẨN

Liên hệ ba đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào giảng dạy môn Kinh tế chính trị Mác - Lênin

Đăng lúc: 09:31:22 17/12/2021 (GMT+7)463 lượt xem

Th.S. Vương Mạnh Toàn   
 Khoa Lý luận cơ sở
 
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thành công rất tốt đẹp. Thành công của Đại hội đã góp phần củng cố, nâng cao niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phát huy tinh thần yêu nước, ý chí và khát vọng phát triển đất nước, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các văn kiện của Đại hội XIII đã thực sự là sản phẩm kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thể hiện rõ sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân”, hoà quyện cùng quyết tâm và ý chí phát triển của dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Để sớm đưa nội dung của trong Nghị quyết vào cuộc sống, việc nghiên cứu học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII sâu rộng tới tất cả cán bộ, đảng viên, quần chúng Nhân dân là bước đầu tiên, quan trọng nhất. Chính vì vậy, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 01-CT/TW, ngày 9-3-2021 “về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng” là nhiệm vụ chính trị quan trọng để đạt kết quả cao. Trong đó, những nội dung cốt yếu mà Đảng ta đã xác định đó là ba “đột phá chiến lược”, các định hướng phát triển”, mục tiêu phát triển cho từng giai đoạn; phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện.
Để tiếp tục tuyên truyền các nội dung của Văn kiện Đại hội XIII thông qua việc giảng dạy phần học về kinh tế chính trị Mác - Lênin cần vận dụng những nội dung của Văn kiện Đại hội XIII có liên quan, đặc biệt là ba khâu đột phá chiến lược. Đối với việc khai thác, vận dụng ba đột phá chiến lược vào các nội dụng cụ thể của phần học, cần tập trung trình bày khái quát nội dung cơ bản về ba đột phá chiến lược mà Đại hội XIII nêu ra và chỉ rõ những điểm mới so với Đại hội XII của Đảng, từ đó khẳng định sự đúng đắn, phù hợp với bối cảnh hiện nay. Đồng thời, gợi mở những nội dung cụ thể của ba khâu đột phá chiến lược để học viên hiểu, tin tưởng tuyệt đối và quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần vào thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra.
1. Nhận thức về ba đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng
Với những thành tựu to lớn đạt được sau 35 năm đổi mới và 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, nhất là kinh tế, càng khẳng định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử đất nước và xu thế hội nhập khu vực, quốc tế. Tuy nhiên, để tiếp tục thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phát triển bền vững, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục bổ sung cho phù hợp với điều kiện, yêu cầu mới trên cơ sở 03 đột phá chiến lược do Đại hội XI và XII của Đảng xác định vẫn còn nguyên giá trị, đó là:
Đột phá chiến lược thứ nhất: Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách nhằm tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển, nhất là đất đai, tài chính; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật[1].

Các Đại hội trước đã nhấn mạnh chủ yếu đến vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, tập trung thực hiện 3 đột phá chiến lược, mà trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính. Kể từ Ðại hội IX của Ðảng tháng 4-2001, Ðảng ta đã khẳng định: Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và kể từ đó đến nay vấn đề hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được đặt ra cấp bách trong các Ðại hội X, XI, XII, XIII của Ðảng. Ban Chấp hành Trung ương đã ra hai nghị quyết chuyên đề về vấn đề này: Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN (trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X). Vì vậy, lần này Đại hội XIII của Đảng đã nâng lên, mở rộng thành thể chế phát triển tổng thể, bao trùm của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó có ưu tiên hoàn thiện thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thể chế phát triển nhanh, bền vững, phù hợp là con đường đi đến thành công.
Đột phá chiến lược thứ hai: Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến căn bản, mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ người tài; đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc[2].
So với các Đại hội trước, lần này Đại hội XIII của Đảng tập trung ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng nhân lực làm công tác lãnh đạo, quản lý trong các lĩnh vực then chốt để thực sự xứng đáng, đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu. Việc chú trọng đến việc phân loại cán bộ theo từng lĩnh vực then chốt để bố trí cho phù hợp với năng lực. Nguồn nhân lực chất lượng cao trong lãnh đạo, quản lý vô cùng quan trọng ở chỗ: Đây chính là chủ thể sáng tạo ra chính sách, đúng hướng đúng quy luật, bắt nhịp thời đại. Chính nguồn lực này cũng là nguồn lực mà chế định thành các quy tắc xử sự các đạo luật để tổ chức thực hiện. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một tấm gương sống còn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Hơn nữa, nguồn nhân lực phải đáp ứng được yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, với nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Để có được nguồn nhân lực chất lượng cao đủ trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới, Nhà nước cần quan tâm thích đáng đến việc đầu tư cho nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực nói chung, nhân lực có chất lượng cao nói riêng. Trong điều kiện nước ta chưa có đủ điều kiện, khả năng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho tất cả các ngành, lĩnh vực thì cùng với việc xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ như yêu cầu của Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khoá XII, cần tập trung cho những ngành, lĩnh vực trọng tâm, then chốt của nền kinh tế để tạo sự bứt phá về chất lượng nguồn nhân lực.
Đột phá chiến lược thứ ba: Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội; ưu tiên phát triển một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng với biến đổi khí hậu; chú trọng phát triển hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số [3].
Văn kiện Đại hội XII của Đảng nêu ra đột phá chiến lược là xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị. Lần này, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh vào các công trình quy mô lớn, trọng điểm quốc gia nhằm mục tiêu thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh trong nước phát triển. Bên cạnh đó, nhanh chóng chuyển giao, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới vào quản lý kinh tế - xã hội đảm bảo kết cấu hạ tầng hiện đại, thuận lợi, an toàn và hiệu quả. Đột phá này hết sức quan trọng vì đất nước ta từng trải qua chiến tranh nặng nề, đói nghèo và lạc hậu về khoa học công nghệ... nên trước đây còn bị hạn chế về tầm nhìn, về điều kiện nhân tài, vật lực để thực hiện. Đến nay, đất nước ta đã có những điều kiện, nguồn lực và khoa học công nghệ nhất định; mà quan trọng nhất là nhu cầu và yêu cầu của thời đại đặt ra. Bởi vậy phải hoàn thiện thêm về cơ cấu, quy mô, bố trí, phạm vi, số lượng và chất lượng về kết cấu hạ tầng, nếu không hoàn thiện được các nền tảng đó thì khó có thể trở thành một nước công nghiệp hiện đại, một nước phát triển được. Đặc biệt, sống trong của đại dịch Covid-19 chúng ta càng thấy rõ vai trò của kinh tế số, xã hội số. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội là tiền đề vật chất quan trọng để thực hiện mục tiên phấn đấu đến năm 2025, kinh tế số đạt khoảng 20% GDP[4], tạo nền tảng đến năm 2030 là nước có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
2. Một số điểm cần lưu ý đối với giảng viên giảng dạy Kinh tế chính trị Mác - Lênin khi liên hệ, vận dụng ba đột phá chiến lược trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng
Qua việc nghiên cứu ba đột phá chiến lược mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra, cần khẳng định những cố gắng, nỗ lực trong quá trình xây dựng và từng bước hoàn thiện các thể chế phát triển của đất nước, cả về thể chế chính trị lẫn thể chế kinh tế, những bước tiến về nhận thức lý luận và thành quả thực tiễn đã được chứng minh. Tuy nhiên, để góp phần hiện thực hóa ba đột phá chiến lược, vai trò của giảng viên là rất quan trọng, đặc biệt là nghiên cứu, giảng dạy học phần kinh tế chính trị Mác - Lênin, cần chú ý một số vấn đề sau đây:   
Một là, xuất phát từ nội dung cơ bản của môn học Kinh tế chính trị Mác - Lênin mang tính đặc thù, theo đó hầu như kiến thức lý luận đều gắn với các đột phá chiến lược, nhất là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng và phát triển nguồn nhân lực. Do đó, nhiệm vụ của giảng viên cần nghiên cứu sâu sắc, toàn diện Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, trong đó tập trung vào ba đột phá chiến lược, đặt ra những câu hỏi, vấn đề thảo luận liên quan và những gợi mở để học viên trao đổi, phát biểu, cụ thể như: Thể chế phát triển, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế số, xã hội số; vai trò của Kinh tế chính trị Mác - Lênin đối với hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển; phát triển nguồn nhân lực, nhất là ngườn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ; quá trình nhận thức của Đảng về các đột phá chiến lược; sự bổ sung, hoàn thiện, điểm nhấn của các đột phá chiến lược so với các đại hội trước; mối quan hệ giữa các đột phá chiến lược với mục tiêu, định hướng và nhiệm vụ trọng tâm; ...
Hai là, giảng viên chủ động, kịp thời bổ sung nội dung các đột phá chiến lược vào trong giáo án và bài giảng cho phù hợp với nội dung kiến thức, đồng thời thường xuyên cập nhật, chắt lọc, bổ sung thông tin mới về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và thế giới để cung cấp cho người học nhân sinh quan, thế giới quan, phương pháp luận khoa học, đầy đủ, toàn diện hơn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là đúng đắn, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là tất yếu và nhất định thắng lợi.
Cụ thể: Trong giảng dạy phần học Kinh tế chính trị, chương trình TCLLCT-HC có thể vận dụng, liên hệ các ba đột phá chiến lượng vào các bài giảng như sau:
+ Đột phá thứ nhất về hoàn thiện thể chế, trước hết là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, giảng viên có thể lựa chọn các nội dung cụ thể để liên hệ vào nội “đặc điểm về kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH” hoặc nội dung “xây dựng quan hệ sản xuất mới tiến bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển của LLSX”.
+ Đột phá về phát triển nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, giảng viên có thể khai thác các nội dung cụ thể vào liên hệ nội dung “các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lao động”; “hàng hóa sức lao động” hoặc “thực hiện phát triển lực lượng sản xuất”.
+ Đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, giảng viên có thể khai thác các nội dung cụ thể liên hệ vào nội dung “các yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa”; “đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH” hoặc “về thực hiện phát triển lực lượng sản xuất”.
Ba là, trong giảng dạy, giảng viên cần chú ý đến phương pháp phân tích, so sánh, lấy kết quả 35 năm đổi mới ở nước ta làm minh chứng và tham khảo kinh nghiệm thành công của một số nước tiêu biểu trên thế giới trong xây dựng và thực hiện phát triển đất nước. Đồng thời, phải làm rõ thêm những hạn chế, bất cập, những “điểm nghẽn” trong nhận thức và thực tế triển khai các đột phá chiến lược về thể chế phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số hiện nay của đất nước khi chuyển sang phát triển theo chiều sâu và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Bốn là, hơn bao giờ hết, mỗi giảng viên giảng dạy lý luận chính trị nói chung cần phải xác định được vai trò, nhiệm vụ chính trị cực kỳ quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy “truyền lửa”, củng cố niềm tin cho học viên. Đồng thời, phải gương mẫu, không ngừng học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, phấn đấu mỗi bài giảng, giờ giảng ngày càng có chất lượng, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra.
Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, đơn vị từ trung ương đến địa phương, toàn thể cán bộ, đảng viên. Trong đó giảng viên giảng dạy Chủ nghĩa Mác – Lênin ở Trường Chính trị tỉnh có vai trò rất quan trọng trong thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến các nội dung Nghị quyết của Đảng đề ra trong Văn kiện Đại hội XIII, góp phần vào thực hiện thắng lợi các tiêu đề mà Đảng ta đề ra, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, tiến tới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./. 
 


4 Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, t.2, tr.95
 
 
Các tin khác
Số lượt truy cập
573 người đang online